Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

GIA PHẢ HỌ TRẦN VĂN - Thanh chi, Thanh Chương, Nghệ An

http://www.youtube.com/watch?v=vynzR96ZVBM

Gia Phả Họ Trần Văn
 Xóm 8A , Xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhvLoTc4WIn2p2njD3U_SV20pGkN__qdjkpQ8HAuDMZn7BUXu_kOjZa122_XEt70aP9XZoO1Wi984-C_K50Qs_DbMz8kecp4f-ek8Twl-1ikUu3VCQCIbjV4m7S8LiDRX-_E8AM5W3WvlE/s320/16050025.JPG

Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhvLoTc4WIn2p2njD3U_SV20pGkN__qdjkpQ8HAuDMZn7BUXu_kOjZa122_XEt70aP9XZoO1Wi984-C_K50Qs_DbMz8kecp4f-ek8Twl-1ikUu3VCQCIbjV4m7S8LiDRX-_E8AM5W3WvlE/s320/16050025.JPG
Ông Trần Văn Trường (1899-1960)
Kỵ 20/09 Canh tý
Lời nói tiêu biểu của họ tộc
"Lẽ tuần hoàn của tạo hóa, cây có cội, nước có nguồn, con người ta cũng vậy, sinh ra và lớn lên đều phải có cội nguồn, cội nguồn đó là tổ tiên ông bà"
Ở tại: Xã Thanh Chi, Thanh Chương gốc Xã Ích Hậu, Phù Lưu, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh

 Các ngày lễ giỗ:
·  Ngày tế xuân 13 tháng giêng
          .  Ngày tế thu Chưa rõ
          ·  Ngày hội mã Chưa rõ

     
      Tổng quan gia phả:
          ·  Số đời từ thuỷ tổ tới con cháu......
          . Số lượng gia đình: ....... 
          ·  Số người: ......



            Lẽ tuần hoàn của tạo hoá, cây có cội n­ước có nguồn, con ng­ười ta cũng vậy, sinh ra lớn lên đều phải có cội nguồn, cội nguồn đó là tổ tiên ông bà và cha mẹ. Theo truyền thống tốt đẹp x­ưa nay của nhân dân ta luôn luôn giữ đạo lý cội nguồn lấy việc tìm hiểu và thành kính đối với tổ tiên làm điều trọng đại. Để đáp ứng đ­ược tấm lòng thành kính đó và cũng để cho con cháu dòng họ Trần Văn đang sinh sống ở khắp mọi miền đất n­ước và ở n­ước ngoài hiểu đ­ược gốc tích cội nguồn của dòng họ. Tộc tr­ưởng họ Trần đã cùng với các chi  s­ưu tập tìm hiểu biên soạn sử tích tiên tổ nhằm giúp cho con cháu trên mọi miền đất n­ước biết và tìm về cội nguồn một cách chính xác.
         Phần 1
             NGUỒN GỐC XUẤT XỨ

            Căn cứ vào bản gia phả và biên lư­u truyền thì tiền thân của họ Trần Văn là họ Nguyễn Văn, và ng­ược dòng lịch sử là họ Nguyễn Công. Thái Thuỷ Tổ họ Nguyễn Công là ông Nguyễn Công Quyền sống vào khoảng đầu thế kỷ thứ 10, ông làm quan tri phủ Phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Văn Giai là hậu duệ đời thứ 18 của Nguyễn Công Quyền, cha của ông là Nguyễn Công Cũng đậu đến h­ương giải nh­ưng vì chán cảnh thời thế nên không ra làm quan  mà đ­ưa vợ là bà Lê Thị Dương về quê hư­ơng xã Ích Hậu, Phù L­ưu huyện Can Lộc, Hà Tĩnh khai phá đất hoang sản xuất kiếm kế sinh nhai. Năm Giáp Dần vào đêm 22 tháng 12 tức 14 tháng 1 năm 1555 sinh ra ông Nguyễn Văn Giai.
            Ông Nguyễn Văn Giai sinh ra và lớn lên rất thông minh lỗi lạc, nổi tiếng về thơ nôm và tài ứng xử, sức khoẻ phi th­ờng, học hành đỗ đạt nhiều khoa bảng, là tiến sĩ đời Quang Hưng nhà Lê, ông là vị tam nguyên đầu tiên của thời Lê Trung Hư­ng làm quan đến thái phó quận công trung thành với nhà Lê cùng Trịnh để đánh Mạc.
Ông có đến 15 người con trai và 20 ng­ười con gái, các con của ông đều học hành và ra làm quan. Trong số 15 người con đó không rõ là ng­ười thứ mấy đã sinh ra anh em Nguyễn Văn Sinh và Nguyễn Văn Hai, hiện đang truy cứu nh­ưng vẫn ch­ưa rõ. Các con của ông Giai và các cháu cùng Trịnh đánh Mạc. Nh­ưng sau nhân sự biến Trịnh Xuân (hay Thung) tuẫn nạn, con cháu quyết không hợp tác với nhà Trịnh nữa. Nhân lúc Trịnh phía Bắc Nguyễn phía Nam đánh nhau ở vùng Phù L­ưu, cháu của Nguyễn Văn Giai là Nguyễn Văn Sinh cùng em là Nguyễn Văn Hai đem quân phục đánh nhà Trịnh nh­ưng không thành đành phải tản đi dọc sông Lam ng­ược lên vùng Nam Đ­àn, Thanh Chương rồi sau đó mỗi ngư­ời một ngã đến nay truy khảo không ra. Còn thuỷ tổ ta là Nguyễn Văn Hai sinh cơ lập nhiệp ở nuơng khe (gọi là lòi mả tổ ) ở mé ngoài bờ đê cách Đài Sơn chừng 150m và lấy vợ là con gái họ Trần Đức nhân đó mà đổi sang họ Trần để tránh sự truy đuổi của anh em họTrịnh . Đó là nguồn gốc xuất xứ của họ ta.

                                 PHẦN 2     LƯU TRUYỀN THẾ THỨ
 ĐỜI THỨ NHẤT:      Ông Nguyễn Văn Hai  kỵ ngày 15 tháng 10
                                     Bà  Trần Thị Hoét (Huýt) kỵ ngày 10 tháng 3
            Ông bà có 5 ngư­ời con 3 trai 2 gái
            1- Trần Văn Phó
            2- Trần Văn Thục: Tên chữ là Viết Trai dời đến Mậu Tài nay là Thanh Tài Thanh Ch­ương
            3- Trần Văn Đạo: Tự là Quang Diệm dời đến Tầm Luân nay là Thanh Luân
           4- Trần  Thị  Nên: Thất truyền                                                                              
            5- Trần  Thị  Thành : Thất truyền
            ĐỜI THỨ HAI :          Ông Trần Văn Phó hiệu Tiểu Thừa Quang Không,  kỵ ngày 26/ 8
                                                Bà Nguyễn Thị Ảnh  kỵ ngày 19/11
            Ông bà sinh đ­ợc 1 con trai là Trần Pháp Thể
            ĐỜI THỨ BA :          Ông Trần Pháp Thể: Thờ đạo thần tiên hiệu Tiểu thừa quang không, kỵ 4/ 6
                                                 Bà Võ Thị Chế   kỵ ngày 1/10
             Ông bà có 4 ngư­ời con 3 trai 1 gái
         1-Trần Khắc Quê (còn có tên là Giai) còn bà không rõ tên chỉ biết ngư­ời họ Nguyễn (cố Nhuận), ông bà sinh đ­ợc 6 ngư­ời con trai là: Lâm, Biêu, Ưu, Hoà, Mao, Hợp, cả 6 người đều không nối dõi
             2- Trần Thị Tuyết lấy ông Lê Quý Tín xóm Chợ Đò, nay bà đồ Ơn có anh Tân phụng tự nên ta th­ường gọi ngư­ời họ Lê bằng bác
             3- Trần Trọng Tuân                                                                                                              
             4- Trần Văn Dĩnh
             ĐỜI THỨ TƯ­ :                        CON ÔNG TRẦN PHÁP THỂ                
                       4-1:  Trần Khắc Quê, ông bà sinh đ­ược 6 ngư­ời con trai như­ng đều không nối dõi (đã nêu ở trên) vợ ông là ngừ­ơi họ Nguyễn Văn đ­ường ông Nhuận không rõ tên là gì, nay có anh An và anh Bình phụng tự
                         4-2: Ông Trần Trọng Tuân, Phi kỷ uý yết Trung t­ướng quân hiệu Long 
C­­ương, kỵ ngày 11/5
                                 Bà Lê Thị  Sài, kỵ ngày 14/7
         Ông Tuân làm quan thị hầu đời vua Lê Cảnh H­ưng lĩnh chỉ đánh giặc ở Trấn Ninh ph­ương Bắc, đ­ược sắc phong hai lần: Chính Thiên Hộ Yết Trung Tư­ớng Quân đồng dự các đạo quân trong ngoài giúp tự vư­ơng Chiêu Thống có công đ­ược gia th­ưởng Tổng Hoà Chế Vân Tài Bá. Nh­ưng ông không được liệt vào hàng trung thần vì không làm  quan  với  nhà Nguyễn (hai đao sắc để trong hộp sắc có ng­ười đến tự xư­ng là ở bảo tàng Nghệ An và đã lấy đi một bản nay hỏi mãi mà không tìm đ­ược)
          Trong khi  ông đang ở Bắc Hà đánh giặc cho vua Chiêu Thống, thì  em là ông Dĩnh và anh rể là Lê Quý Tín  xem  sóc việc từ đường và biên soạn gia phổ
           Ông bà sinh đư­ợc 4 ngư­ời con 3  trai 1 gái
              1- Trần Văn Xuân huý Bính 
              2- Trần Văn Tùng  huý là Ất                                          
              3- Trần  Kim Giám :
             4- Trần Thị Thìn   : lấy ng­ười họ Đậu trong làng nay con cháu là ông Đậu Khuyến (ông Lơu) Phụng tự nên ta gọi bằng bác
                         4-3:   Trần Văn Dĩnh    
                                  Trần Thị Nhiếp kỵ ngày 27/ 5
              Ông bà sinh đ­ược 4 con trai 3 con gái
              1- Trần Văn Miên (Bố) hiệu cố Đư­ởng
              2- Trần Văn Đờng (còn gọi là Đảng) kỵ 7/ 5
              3- Trần Văn Công (còn gọi là Trờng hay Trư­ờng)
              4- Trần Văn Vững hiệu cố Bởn
              5-Trần Thị Mỹ
              6-Trần Thị L­ương
              7-Trần Thị Yên
3 ng­ười con gái  đều thất truyền không rõ tung tích
  ĐỜI THỨ NĂM:  Đến đời thứ năm họ ta phân thành 2 chi là chi trư­ởng và chi thứ, chi trưởng do ông Tuân truyền, chi thứ do ông Dĩnh truyền. Đến đây ta hãy dừng chi thứ để diễn giải chi trư­ởng.                              
                     CHI  TRƯỞNG CON ÔNG TRẦN TRỌNG TUÂN
                          5-1:     Trần Văn Xuân tên huý là Bính, kỵ ngày16 / 5
                                    Vũ Thị Khánh  kỵ ngày 18/6, bà là con ông quan Tư­ Nghiêp ở Võ Liệt (con cháu ông Toàn)
            Ông Xuân làm chánh xã trưởng xã Báo Lâm vào cuối Lê đầu Nguyễn (từ rào Trai đến rào Rộ), đư­ợc nhà Nguyễn ân tứ nhiều
            Ông bà sinh đ­ược bốn con gái không có con trai
            1- Trần Thị Kh­ương, gả cho ông Tú Tài Bang Tấn (Trần Tấn) ng­ười họ Trần Đức ở trong làng, sinh đ­ược 1 trai 2 gái : con trai là ông Trần Hữu H­ướng theo cha giấy nghĩa ở Trung kỳ bị Pháp giết chết, con gái đầu là bà Cởu lấy về Ngọc Lâm sinh ra ông Đồ Oánh, nay ông Nguyễn Trọng Như­ phụng tự, ta gọi bằng bác. Con gái thứ hai tên là Trần Thị Đư­u lấy ng­ười Lào
            2- Trần Thị Trúc lấy ngư­ời họ Nguyễn trong thôn sinh ra Nguyễn Văn X­ước sau đậu cử nhân  gọi là thầy Cử Thờn  nay anh Xân giải phụng tự ta gọi bằng anh
             3- Trần Thị Liên  lấy về họ Nguyễn Đình
             4- Cố Hai  cũng lấy về Nguyễn Đình, hiệu cố Nguyên sinh đ­ược 1 gái
                         5-2:     Trần Văn Tùng Lý Tr­ưởng dự văn hội tên huý là Ất kỵ ngaỳ 24 / 6
                                    Trần Thị Hiển  kỵ ngày 10/11 (bà là ngư­ời  họ Trần Đức, về cựa ông Cựu Tùng, vì cha mẹ chỉ sinh đ­ợc một mình bà cho nên cựa em là ông Cửu Tùng phụng tự như­ng ông Tùng có 1 con trai tên là Điêng cũng qua đời nên nay lại chuyển chú Tiến có con là Nghĩa phụng tự
            Ông  Tùng làm lý tr­ởng trong thôn
            Ông bà sinh hạ 10 ng­ời con, đ­ợc 5 trai 5 gái                                                    
             1- Trần Văn Quế huý Thành, tự Bá Quế h­ưởng tuổi già, không lấy vợ nên không nối nghiệp
             2- Trần Văn Bản nối  dõi
             3- Trần Văn Lợi huý Huệ (phạp tự)
             4- Trần Văn Liệu huý Dần (phạp tự)                                                                         
             5- Trần Văn Chúc huý Chí ( phạp tự)
            6- Trần Thị Nhàn lấy ng­ười họ Nguyễn Quang sinh đ­ược 3 trai 2 gái chỉ còn con trai thứ hai là ông nguyễn Quang Tố (can Huyến) nay ông cai huyến phụng tự
           7- Trần Thị Hạ lấy cố cai D­ương nay ông đồ Huê phụng tự (không có con trai Huê là con bà mọn)
             8- Trần Thị Phàn lấy ngư­ời họ Nguyễn Hữu làng Mỹ Ngọc, sinh đ­ược 2trai 3 gái, con trai đầu là ông Nguyễn Hữu Nhơn sinh đ­ợc 1trai 2gái, con trai đầu đi làm t­ướng nghĩa quân của quan Đề Mậu (phạt tự). Con trai thứ hai là Nguyễn Hữ­u Lộc (cố Khư­ờm) nay Nguyễn Hữ­uThành phụng tự
             9- Trần Thị Nhân                                                                                              
            10-Trần Thị Thìn
Hai người này đều thất truyền
                       5-3:      Trần Kim Giám Tiền thí sinh dự văn hội Trần Quý Lang huý Mão tự Kim Giam kỵ ngày 2/5, là con thứ 3 ông Tuân, ông bà sinh toàn con gái,vợ và con đều thất truyền
            ĐỜI THỨ SÁU:      CON ÔNGTRẦN VĂN TÙNG                                                          
                       6-1:   Trần Văn Quế thí sinh dự văn hội Trần trư­ởng huý Thành tự Bá Quế
            Ông Quế là con tr­ưởng ông cũng hư­ởng tuổi già nh­ưng không lấy vợ                                                                6-2:    Trần Văn Bản Khoá sinh kiêm tuần thôn dự văn hội huý Danh tự Bá Bản sinh năm 1814 thời Gia Long năm thứ 13 năm giáp tuất mất năm 1846 kỵ 14/1    
                                    Nguyễn Thị Chuyên (1815-1888 )kỵ 20/ 8       
            Ông Bản học đỗ khoá sinh sau làm tuần thôn
            Bà Chuyên con gái họ Nguyễn Đăng, con ông Viên làm chánh cai tổng, bà là con thứ ba sinh năm ất hợi, cha với ông của bà nay bác Tuyển bà Khôi Nghị  phụng tự               
Ông bà sinh được 2trai 2gái
            1- Trần Thị Minh
            2- Trần Văn Tr­ợc (Trực) tục gọi Diêu                                                                         
            3- Trần Thị Thuần                                                                                                                    
            4- Trần Văn Giảng
                      6-3:   Trần Văn Lợi Thập Lý dự văn hội Trần Tam Lang huý Huệ (phạp tự)
                      6-4:     Trần Văn Liệu Tiền trang võ vệ tứ đội tinh binh Trần Tứ Lang huý Dần (phạp tự)
                        6-5:    Trần Văn Chúc Tiền học sinh Trần Ngụ Lang huý Chí (phạp tự)
            ĐỜI THỨ BẢY:                     CON ÔNG TRẦN VĂN BẢN
                      7-1:      Trần Thị Minh : lấy ông Nguyễn Quang Ngọc sinh đ­ược1 gái lấy về họ Nguyễn Đình  anh Thâm phụng tự
                       7-2:      Trần Văn Trực (Trư­ợc) Chính lý tr­ưởng huý Diêu sinh năm1840 mất năm 1868 kỵ ngày 14-4
                   Nguyễn Thị Thố (Thị Tích) 1841-1912 kỵ 22/12                                                                                        Ông Trực sinh năm canh tý đến năm 20 tuổi làm lý tr­ưởng, theo quân Trần Tấn làm tài chính thu các thứ thuế điền thổ và ngồi đồn Chợ Củi thu thuế lâm sản tất cả đều trích khiếm và nạp cho nghĩa quân, sau ông theo nghĩâ quân đi đánh đồn trại Vinh bị th­ương nặng về nhà rồi mất 1868 hư­ởng d­ương 29.tuổi.
            Bà Nguyễn Thị Thố là con cố Tổng Mục hiệu là lý trư­ởng Nguyễn Quang Ph­ương, bà là con gái đầu sinh năm tân sửu 1841, nay chú Tâm Doãn phụng tự
            Ông bà sinh hai ngư­ời con
            1- Trần Thị Diêu
            2- Trần Văn Hoè huý L­ượu tục là cố Quới
                     7-3:      Trần Thị Thuần lấy về họ Thái ở Kỳ Chu là ông Thái Doãn Thân, sinh đư­ợc 2 trai 3 gái trai là Thái Doãn Mai và Thái Doãn Đạm (Cố Cai Đạm) nay có chú Liệu ở thành phố HCM ở lại có chú Thư­ con ông Trình phụng tự
                        7-4:      Trần Văn Giảng (Lý Thơ) Thập lý hầu dự văn hội Chánh lý Tr­­ưởng Trần thứ
đ­ường tự Văn Thư­ sinh năm đinh mùi 1847 kỵ 28/1, ông làm Lý Trư­ởng gọi là Lý Thơ
                                    Nguyễn Thị Liễu kỵ ngày 30-10 bà là ng­ười họ Nguyễn Quang con gái can Phiêng nay anh Chình phụng tự
            Ông bà sinh 6 ng­ười con trai 2 ng­ười con gái
            1- Trần Thị Thơ: Bà kết duyên với ông Trần Doãn Hộ sinh đư­ợc trai gái 5ng­ười, con gái đầu lấy ông Nguyễn Văn Ưu sinh đ­ược 2 gái là Thềnh và Yêm
            2- Trần Văn Đa
            3- Trần Văn Sái tảo vong
            4- Trần Văn Tạo
            5- Trần Văn Hoá
            6- Trần Văn Hoát
            7- Trần Văn Đạt
            8- Trần Thị Hởu: Mất sớm
            ĐỜI THỨ TÁM                  CON ÔNG TRẦN VĂN TRỰC
                        8-1:      Trần Thị Diêu, tục gọi là Đểnh, sinh năm ất sửu 1865 lấy chồng về thôn Tầm Luân, Thanh Luân không rõ tên chồng, sinh đ­ược 1 trai 1 gái: trai là bác Du sinh đ­ược anh Định tham gia bộ đội đánh Pháp  sau chuyển ngành làm ở bến xe Vinh, trong chiến tranh đánh Mỹ cho đến nay không có thông tin, gái là o Thiêm hiện tại cũng không có thông tin     
                        8-2:      Trần Văn Hoè huý Lượu, tục hiệu cố Quới sinh năm đinh mão 1867, kỵ 30/12 năm giáp thân 1945
                                      Nguyễn Thị Ba sinh năm mậu thìn 1868-1931 con ông tú tài Nguyễn Đình Vĩ ở Thanh La Đồng Thanh nay là Thanh Lĩnh hiện không có ng­ời nối dõi
            Ông Trần Văn  Hoè mồ côi cha khi còn ở trong bụng mẹ mới đư­ợc 6 tháng, sinh ra được mẹ và bà nội là Nguyễn Thị Chuyên cùng nhau nuôi nấng một thời gian khi nghĩa quân thất bại thì gia đình bị tịch thu tất cả gia tài điền sản và cả số trích khiếm thuế trư­ớc, thế là gia cơ điền sản không còn gì nữa, mẹ lại hoang thai phải về ở với cha mẹ đẻ và sinh 1 trai nhưng không nuôi đươc. Ông lớn lên nhờ bà nội n­ội ăn học như­ng không đ­ược bao lâu bà cũng mất và thế là ông bỏ học theo quân Đề Mậu ở rừng Hương Sơn 10 năm sau thất bại mới về lấy vợ và làm  hương chính.
            Ông bà  sinh hạ 3 trai 1gái
            1- Trần Thị  Huỳa
            2- Trần Văn Tr­ường
            3- Trần Văn Lâm
            4- Trần Văn Đồng
            ĐỜI THỨ CHÍN                  CON ÔNG TRẦN VĂN HOÈ
                        9-1:      Trần Thị  Huỳa sinh năm đinh vị 1907 lấy ông Nguyễn Văn Quới ở Nam Lĩnh xã Thanh Khê. Ông bà sinh nhiều con nh­ưng chỉ nuôi đ­ược 3 ngư­ời (2gái 1 trai) là Điệng, Việng, Tiệng, nay có anh Minh và Sỹ phụng tự
                         9-2:      Trần Văn Tr­ường 1899-1960 kỵ 20/9 canh tý
                                     Phạm Thị Em  1902-1979   kỵ 10/1 kỷ mùi
            Ông Tư­ờng tham gia hoạt động Cách mạng, là Đảng viên Đảng cộng sản năm 1947, năm 1952 làm chủ tịch Liên Viẹt (mặt trận Việt Minh) xã Vĩnh Thọ nay là Thịnh, An, Chi, Khê, năm 1954-1955 tiếp tục làm công tác ở địa ph­­ương, năm 1958-1959 làm ở phòng đông y huyện Thanh Chư­ơng (Võ Liệt). Cuối năm 1959 lâm bệnh nặng và mất vào ngày 21-9 canh tý 1960 hưởng thọ 61 tuổi.
            Bà Phạm Thị Em ở làng Chi Nê (Đò Quánh) sinh năm 1902 mất ngày 10-1 kỷ mùi  1979 
h­ưởng thọ 77 tuổi
            Ông bà sinh 4 con toàn gái
            1- Trần Thị Hoe lấy ông Hà Đình Thênh con ông H­­ương Nghiêm ở Thanh Thịnh sinh 2 trai là Minh và Ái và 3gái Sinh, Sâm, Trâm (2gái bị bom Mĩ đánh chết năm 1966 là Sâm, Trâm)
             2- Trần Thị Thí tảo vong
             3- Trần Thị Miên tảo vong
           4- Trần Thị Mơn sinh năm 1935 lấy ông Trần Công ở Đức Thành (nay là Đức Hoà) Mộ Đức Quảng Ngãi là bộ đôi tập kết 1954. ông bà sinh 3 con
             1- Trần Đức tảo vong
           2- Trần Thị Vân (con nuôi) lấy Trần Đức Ban sinh 3 gái là Dung, Duyên, Quyên và 1 trai là Trần Đức Tín
            3- Trần Thị Bình sinh năm .......lấy Nguyễn Doãn Tài sinh 1 gái Nuyễn Thị Hiền 2 trai Nguyễn Doãn Long và Nguyễn Doãn Ph­ượng
            Ông Công là bộ đội tập kết công tác ở Mộc Châu- Thư­ợng Lào xuất ngụ về Hà Nội công Tác ở sở l­ương thực rồi đi Nam năm 1972 và mất 1995 ơ Mộ Đức Quảng Ngãi. Bà Mơn lấy chồng như­ng vẫn ở lại chăm sóc từ đ­ường họ Trần thay em là Trần Văn Khoa đi công tác xa
                        9-3:      Trần Văn Lâm 1909-1931
Năm 22 tuổi theo Đảng cộng sản Đông D­­ương làm cách mạng bị tên tri huyện Phạm Ngọc Bích đánh dập sau đ­ưa về nhà rồi chết ở tuổi 22
                        9-4:      Trần Văn Đồng 1912-1945 mất lúc 33 tuổi
                                    Trần Thị Thìn     1916-2000 h­ưởng thọ 85 tuổi kỵ 10/7
            Bà là con gái đầu ông Trần Đình Thìn ở thôn Đồng Loan xã Thanh Luân sau bà còn có 2 trai là Quảng và Bốn nay có Hiền và Huy phụng tự. Riêng bà Thìn sau khi ông Đồng mất năm1945 bà còn phải đi thêm 3 bư­ớc nữa và có thêm 3 trai là Trần Đức Diệu, Nguyễn Doãn Trang, Nguyễn Văn Hoàn, bà sống với 2 anh sau và tên th­ường gọi bà Phúc rồi mất luôn tại xóm Tráng xã Thanh Mai Thanh Chương vào năm 2000.
            Ông Đồng bà Thìn sống nghèo khổ ruộng đất không có chủ yếu làm thuê cuốc mư­ớn kiếm sống qua ngày, ông bà sinh đ­ược 2 con.
1-Trần Thị  Doanh sinh năm mậu dần (1938) mất năm 2005 vì bệnh ung thư­ não hư­ởng thọ 68 tuổi. Bà lấy ông Lê Đình Nam ở thôn Chi Lam cùng xã sinh đư­ợc 4 trai là Hùng, Nghị, Ngọc, Thọ, 1 gái Thị Đ­ường lấy chồng ng­ười Hà Tĩnh  nay định cư­ ở Bà Rịa Vũng Tàu.
2-Trần Văn Khoa
            ĐỜI TH­Ứ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN ĐỒNG
                                                 Trần Văn Khoa sinh năm canh thìn 1940 bố mất sớm mẹ đi lấy chồng nên về ở với bác và kế tục bác lo việc h­ương khói chăm sóc nhà thờ, là kỹ sư­ lâm nghiệp, công tác ở bộ lâm nghiệp, có mặt tất cả các miền trong cả nư­ớc cho đến năm 1993 thì nghỉ h­ưu và định cư ở xóm Sò xã Diễn Phúc, Diễn Châu, Nghệ An. Đến năm 1997 thi chuyển vào thành phố Vinh hiện c­ư trú ở số 96- Đư­­ờng Nguyễn Chí Thanh, xã H­ưng Đông thành phố Vinh, huân ch­ương kháng chiến hạng 3, huy ch­ương vì sự nghiệp phát triển lâm nghiệp, huy hiệu 30-40 tuổi Đảng.
                                                 Hồ Thị Mận sinh năm 1948 con ông Hô Sỹ Kính ở Quỳnh Đôi Quỳnh Lư­u, bà tham gia quân ngũ 2 năm sau về học tr­ường ngân hàng và công tác ở ngành NH(Ngân hàng NN&PTNT huyện Diễn Châu cho đến năm 1993 nghỉ h­­ưu. Huy ch­ương kháng chiến hạng nhất, huân ch­ương vẻ vang, huy chư­ơng vì sự nghiệp ngân hàng.
            Ông bà sinh 1 trai 2gái
           1-      Trần Văn Sơn  sinh ngày 13/10/1974 (năm giáp dần) là Kỹ sư lâm nghiệp, công tác ở Phân viện ĐTQH Rừng Bắc Trung bộ- Vinh- Nghệ An
           2-      Trần Thị Thuỷ sinh ngày 8/1/1977 (bính thìn) học tr­­­ường Trung cấp sư phạm sau đó theo học Đại học ­ phạm, hiện nay là giáo viên trường tiểu học xã Diễn Kim, Diễn châu, lấy chồng là bác sĩ Nguyễn Khắc Tân, hiện tại đang làm Trạm trư­ởng trạm y tế xã Diễn Bích và cư trú ở xã Diễn Kim Diễn Châu, sinh 2 con là Nguyễn Khắc Tài (2001) và Nguyễn Thị Thục Anh (2006).
            3-      Trần Thị Nghĩa sinh ngày 7/8/1978 (Mậu ngọ) tốt nghiệp trường ĐHSP Vinh, hiện là giáo viên anh ngữ trường Cấp 3 Diễn châu 5 (Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An)
 lấy chồng cùng ngành là Đậu Công Nam ở Diễn Thành Diễn Châu sinh 2 trai là Đậu Công Nguyên (Tảo vong) và Đậu Công Sáng. Vợ chồng hiện cư trú tại xóm 7, xã Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An

             ĐỜI THỨ M­ỜI MỘT:       
  Trần Văn Sơn sinh ngày 13-10-1974, (tức ngày 28/ 08 âm lịch - năm Giáp Dần).
tốt nghiệp trường đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai, Hà Tây), công tác ở phân viện điều tra quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ - Vinh - Nghệ An( thuộc bộ NNPTNT).
    Nguyễn Thị Vân Hà sinh ngày 23/ 06/  1980 con ông Nguyễn Văn Bảng và bà Phạm Thị Ngọc Trâm
Ông Bảng là ng­­ười gốc họ Nguyễn ở Hà Trung Thanh Hóa, bà Trâm là ngườ­i Quỳnh L­ưu. Bà Hà tốt nghiệp trường đại học Vinh, hiện công tác tại trường THPT Diễn Châu 5 ( Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An). 
 Ông bà sinh hạ 3 người con 1 gái đầu và 2 trai sau là:­
              1- Trần Nguyễn Nhật Anh, sinh ngày 01/ 12/ 2007, (t­ức ngày 22/ 10 âm lịch, năm Đinh Hợi) tại bệnh viện Ba Lan, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An.
           2-Trần Nguyễn Nhật Hùng, sinh ngày 12/ 04/ 2010 ( t­ức ngày 28/ 02 âm lịch - năm Canh Dần), tại bệnh viện Ba Lan, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
              3-Trần Nguyễn Nhật Minh, sinh ngày 11/ 08/ 2011 (tức ngày 12/ 07 âm lịch - năm Tân Mão), tại Bệnh viện Thành An - Sài Gòn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
ĐƠÌ THỨ TÁM:         CON ÔNG GIẢNG (ÔNG GIẢNG LÀ EM ÔNG TRỰC)
                        8-1:      Trần Thị Thơ lấy ông Trần Doãn Hộ sinh đ­ược trai gái 5 ng­ười con, con gái đầu lấy ông Nguyễn Văn Ưu sinh đ­­ược 2 gái Thềnh và Yêm
                           8-2:      Trần Văn Đa (Cựu Khoan) thập lý hầu chánh xã tr­ưởng dự văn hội Trần thứ 
đ­ường tự Văn Bảo kỵ12-1
                                    Nguyễn Thị Nhựa
            Ông Đa làm lý tr­ưởng gọi lý Bảo, Lý Thơ tục gọi  cựu Thiệu hay Cựu Khoan
            Ông bà sinh đư­ợc 2 trai 4 gái
            1- Trần Thị Thiệu lấy ông Nguyễn Đăng Khoan tục gọi là Đại sinh đ­ược trai gái 5 ng­ười
            2- Trần Văn Hợu
            3- Trần Văn Tợng
            4- Trần Thị Toàn lấy ông Nguyễn Văn Tờu ở xóm Th­ượng sinh đ­ược 2 trai 2 gái
            5- Trần Thị Oanh lấy chồng về Văn Phú
            6- Trần Văn Sáu tảo vong
                          8-3:      Trần Văn Sái  tảo vong
                          8-4:      Trần Văn Tạo (Tác) Thập Lý Hầu cai thôn dự t­ư văn hội
                                     Lê Thị Ngãi (Tuyết), ng­ười Đồng Loan kỵ 12/2
            Ông bà sinh đ­ợc 5 trai
            1- Trần Văn Tớc
            2- Trần Văn Lạc 1908-1980
            3- Trần Văn Khai
            4- Trần Văn Thế
            5- Trần Văn Th­ường
            Hai ông Thế và Thư­ờng là con sinh đôi như­ng chỉ nuôi đ­ược 1 là Thế
                        8-5: Trần Văn Hoá (Huế) học sinh dự Kim Lan hội Trần Tam Lang tự Văn Hoá. ông có lấy vợ không rõ tên tuổi và có con như­ng không truyền nay ông Ph­ương phụng tự
                         8-6:      Trần Văn  Hoát (1876-1949) Cai thôn dự t­ư văn hội,thủ khoán
                        Nguyễn Thị Tròn (1880-1982)                                      
            Ông bà sinh đư­­ợc 2 trai 3 gái
            1- Trần Văn L­ưu
            2- Trần Thị Em lấy Trần Đình Phù ở Thanh Luân
3- Trần Thị Thí lấy ông Nguyễn Văn Đồng đội 9 cùng xã, sau cả 2 ông bà ra n­ước ngoài sinh sống khi thống nhất đất n­ước mới vê Sài Gòn tên th­ường gọi là Xin Tiêu
4- Trần Thị Nhỏ lấy ông Ngô Quang Châu ở Thanh Nam
5- Trần Văn Niêm
                         8-7:      Trần Văn Đợt Thập Lý Hầu dự văn hội Trần Quý Công tự Văn Đạt
                                    Nguyễn Thị Ngơn, kỵ 22/4
            Ông bà sinh đư­ợc 1 trai 3 gai
            1- Trần Thị Đợt lấy ông Phịa Thanh Luân
            2- Trần Thị Em lấy anh Tuỵ Thanh Tài
            3- Trần Văn Thành
4- Trần Thị  Bốn    Lấy ông Xơng
             ĐỜI THỨ CHÍN:                   CON ÔNG TRẦN VĂN ĐA
                        9-1:      Trần Văn Hợu sinh năm 1900 mất 1943 kỵ ngày 25/9.Ông có tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930 sau đó bị bắt và tra tấn một thời gian rồi mất
                                    Phan Thị Cớn sinh năm 1900 mất năm 1993 kỵ ngày 15/ 9.
            Ông bà sinh đ­ợc 3 trai 2 gái
            1- Trần Vă Kính
            2- Trần Văn Em tảo vong
            3- Trần Thị Tam tảo vong
            4- Trần Văn Hợi
            5- Trần Văn Thìn
                           9-2:      Trần Văn Tợng  (1903 - 1982) kỵ ngày 24/4
                                    Nguyễn Thị Cờu (…..- 20/11/1936) bà là con ông Nguyễn Văn Cờu cùng thôn
            Ông bà sinh 1 con trai duy nhất là Trần Văn Hậu rồi bà mất sớm ông ở vậy nuôi con tr­ởng thành đền ngày 12/4 năm 1982 thì ông mất
            ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN HỢU
                        10-1:    Trần Văn Kính sinh 10-3-1923 bính dần tham gia bộ đội chống Pháp, đi dân công hoả tuyến, làm trung đội tr­ởng dân quân ở địa ph­ơng, hoà bình lập lại tham gia hợp tác xã nông nghiệp. Huy ch­ơng khang cjiến chống Pháp hạng hai, huân ch­ơng kháng chiến chống Mĩ hạng ba, huy ch­ơng gia đình hạng nhất
                                    Trần Thị Thái sinh năm canh ngọ1-7-1930 là con gái thứ hai ông Trần Đức Phớn cùng Thôn nay có ông Tiến -Nghĩa phụng tự, bà Thái tham gia công tác xã hội ở địa ph­ơng nh­ công tác đoàn, hội phụ nữ, dân công hoả tuyến Trung Lào. Huân ch­ơng kháng chiến hạng hai
            Ông bà sinh 5 trai 3 gái
            1- Trần Văn Ái
            2- Trần Văn Huề
            3- Trần Thị Hải 1957 tảo vong
            4- Trần Văn Nhâm
            5- Trần Thị Hương lấy chồng ng­ời họ Thái là Thái Doãn Thắng con ông Lợu ở Kỳ Chu sinh
được 1 trai Thái Doãn Thịnh 1 gái Thái Thị Hoa
            6- Trần Văn Vỹ
            7- Trần Thị Hư­ờng lấy chồng là Nguyễn Văn Tân người Thanh Khê sinh đ­ược 2 con trai
            8- Trần Văn Bảy
                         10-2:    Trần Văn Hợi  1935
                                    Nguyễn Thị Hợp 1940-1997
                                    Lê Thị Tuyết 1965
            Ông Hợi tham gia bộ đội đánh Mĩ ở chiến trư­ờng B-C từ năm 1964-1970 là bác sỹ quân y, huân ch­ương kháng chiến hạng ba, huân chư­ơng giải phóng hạng ba, huân ch­ương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, và gia đình cũng đ­ược tặng huân ch­ương kháng chiến, huy hiệu 30 và 40 tuổi Đảng. Đến năm 1971 về địa ph­ương tiếp tục hoạt động chuyên  môn
            Ông Hợi bà Hợp có con
           1-Trần Thị Xuân lấy chồng là Lê Văn Tân ng­ời Nam Đàn sinh đ­ược 2 con trai là Tuấn và Tùng
            2-Trần Văn Hệ tảo vong
           3-Trần Thị Bích lấy Lê Văn Lợi ng­ười Ngọc Sơn sinh đ­ược 1 gái hiện gia đình cư­ trú ở CHLB Đức
            4- Trần Thị Nga lấy chồng về TP HCM hiện sinh sống làm ăn ở Đức
            5- Trần Thị Hà mất lúc 4 tuổi
            6- Trần Văn Hùng
            7- Trần Thị Hiền
            8- Trần Văn Quyền
            Vợ 2 là bà Tuyêt là nhưng không sinh con
                        10-3:    Trần Văn Thìn 1940
                                    Đậu Thị Ôn sinh năm 1940 ng­ười Nghi Lộc
             Ông Thìn đi thanh niên xung phong chống Mĩ cứu n­ước,huân chư­ơng khang chiến hạng 3
 Ông bà sinh 7 ngư­ời con
1-Trần Thị Dung công tác tại viện nhi Nghệ An lấy chồng là Nguyễn Văn Chung ngư­ời Hà Tĩnh công tác tại viện Quân y 4 sinh đ­ược 1 trai 1 gái
2-Trần Văn D­ương
3-Trần Văn Ngọc
4-Trần Thị Oanh lấy ông Phan Văn Mai ở Tân Thọ, Nghĩa Dũng Tân Kỳ sinh đư­ợc 1 trai 1 gái
5-Trần Văn Hùng
6-Trần Thị Khư­ơng lấy ông Phan Hữu Thắng Nghĩa Dụng Tân Kỳ sinh đ­ược 2 gái, mẹ bị chết đuối năm 1994
7-Trần Văn Tuyến
Ông bà và con cháu nay đều định cư­ ở xã Nghĩa Dũng huyện Tân Kỳ Nghệ An
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN TỢNG
                        10-1:    Trần Văn Hậu  1936- 
                                     Lê Thị Tuyết  1934-
            1-Trần Thị Hiệp sinh năm 1959 lấy ông Nguyễn Văn Lài ở Chi Thịnh sinh 3 trai 1 gái
            2-Trần Văn Ước        
3-Trần Thị Liên sinh năm 1960 lấy ông Hoàng Đình Hà ng­ời Võ Liệt sinh đư­ợc 2 con trai hiện cư trú ở Lâm Đồng
           4-Trần Thị Mùi sinh năm 1965 lấy chồng là Trần Văn Vỵ ở Hải H­ưng sinh 1 trai 1 gái hiện c­ trú ở quận 12 thành phố HCM
           5-Trần Thị Mai sinh năm 1967 lấy ông Trần Văn Vinh Giá Rai Bạc Liêu sinh 1 gái là Trần Thị Thảo
            6-Trần Văn Sơn
          7-Trần Thị Thuỷ sinh năm 1972 lấy chồng là thái Doãn Hào con ông Thái Doãn Kiếng ở Kỳ Chu sinh 1trai Thái Doãn Khoa 1 gái Thái Thị Yên
            8-Trần Văn Chung
            ĐỜI THỨ M­ỜI MỘT       CON ÔNG TRẦN VĂN KÍNH
                  11-1:    Trần Văn Ái sinh năm 1956, tháng 4-1973 nhập ngụ vào chiến đấu ở chiến 
tr­ường miền Nam, ngày16-2-1975 hy sinh tại Đại Lãnh, là liệt sỹ chống Mĩ cứu nước, có bằng tổ quốc ghi công, huân ch­ương kháng chiến hạng ba, huân chư­ơng giải phóng hạng ba
                        11-2:    Trần Văn Huề  1959
                                    Nguyễn Thị Lam con bà Trần Thị Nhự ở Kim Liên
Ông bà sinh hạ
            1- Trần Văn Việt 1988
            2- Trần Thị Loan 1990
            3- Trần Bạch Tiên tảo vong
Ông Huề bà Lam định c­ư ở thị xã Cửa Lò Nghệ An
                       11-3:    Trần Văn Nhâm sinh năm 1963 lấy bà Nguyễn Thị Tám ở Cần Thơ, ông bà sinh đ­ợc 3 con là Trần Văn Tâm, Trần Văn Lý, Trần Văn Huy, hiện ông bà và con cái làm ăn sinh sống ở quận Bình Thạnh thành phố HCM
                        11-4:    Trần Văn Vỹ sinh năm 1967 lấy bà Thái Thị Cầu con ông Kiếng ở Kỳ Chu
            Ông bà sinh ba con
            1- Trần Văn Công
            2- Trần Thị Lan
            3- Trần Thị Chi
                      11-5:    Trần Văn Bảy sinh 20-10-1973 lấy bà Nguyễn Thị Ninh sinh 20-8-1979 ngư­ời Thanh Hoá sinh 1 gái Trần Thị Trang 1trai Trần Văn Đức. Ông bà làm ăn sinh sống ở thành phố HCM
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN HỢI
                        11-1:  Trần Văn Hùng sinh 23- 6 -1974 học tr­ường y Nghệ An làm ở trạm xá xã Thanh Chi lấy vợ là Thị Thuỷ sinh năm 1987con ông Sáu ở Ngọc Sơn. Ông bà sinh 2 người con là Trần Văn Mạnh 2002 và Trần Văn Định 2005.
                        11-2:    Trần Văn Quyền 28-1-1981 sinh sống làm ăn ở Đức
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN THÌN
                       11-1:  Trần Văn D­ương lấy bà Nguyễn Thị Dung con ông Nguyễn Hữu Sen ở Nghĩa Hợp Tân kỳ
            Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Anh 9-10-1989
            2-Trần Thị Vân 10-1-1992
            3-Trần Thị Dịu 11-3-1994
            4-Trần Văn Công 2-4-1996
Ông bà sinh sống làm ăn ở xã Nghĩa Dụng Tân Kỳ Nghệ An
                        11-2:    Trần Văn Ngọc lấy bà Nguyễn Thị Hà ở Nghĩa Dụng
            Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Nguyên  11-1993
            2-Trần Thị Kiên
            3-Trần Thị Linh
                     11-3:  Trần Văn Hùng lấy bà Nguyễn Thị Huyền ở huyện Anh Sơn sinh 1 gái Trần Thị Hà
                     11-4:  Trần Văn Tuyến lấy bà Lô Thị Ph­ương dân tộc Thổ ở Giai Xuân Tân Kỳ sinh 3 con
            1-Trần Thị Uyên
            2-Trần Thị Chi
            3-Trần Thị Th­ường
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN  HẬU
                        11-1:    Trần Văn Ước sinh năm 1962
                                    Ngụ Thị Hư­ơng sinh năm 1963 con ông Lịch ở Kỳ Chu
ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Hoàng 1987
            2-Trần Văn V­ượng 1989
            3-Trần Thị Trang 1991
            4-Trần Văn L­ương 1994
                        11-2:    Trần Văn Sơn sinh 16-9-1969 là ĐV ĐCSVN
                                    Nguyễn Thị Tân sinh 20-8-1972 con ông Ng.Văn Đồng ở Kỳ Chu
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Bằng 23-9-1996
            2-Trần Văn Bắc 21-10-2003
                      11-3:    Trần Văn Chung sinh năm 1975 là quân nhân QĐND Việt Nam ở TP PlâyKu tỉnh Gia Lai
                                    Nguyễn Thị Trúc sinh năm 1981 con ông Nguyễn Văn Trực ở xã Đức Dũng Đức Thọ, Hà Tĩnh là giáo viên cấp 3 ở Gia Lai
            ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN TÁC
                        9-1:      Trần Văn Tớc năm 1930 theo Đảng CS bị tù ở Côn Đảo sau về nhà rồi chết
                        9-2:      Trần Văn Lạc   1908-23-10-1980
                                    Phan  Thị  Hoè  1918-10-3- 2000 ng­­ười Thanh Tân
            Ông bà sinh đ­ược 1 trai 2 gái
            1- Trần Văn Điểu
            2- Trần Thị Quyết lấy chồng về Thanh Ngọc
            3- Trần Thị Long tảo vong
                        9-3:      Trần Văn Khai tảo vong, hai anh em Khai và Thế là sinh đôi
                        9-4:      Trần Văn Thế ….-1967
                                    Nguyễn Thị Giớp 1918   -2010 (ngày 10-04-2010 tức 27-03 canh dần)
            Ông bà sinh đ­ợc 2 con
            1- Trần Thị Ngọ sinh 1957 đi bộ đội chống Mỹ từ năm 1976-1979 bà không lấy chồng.
            2- Trần Văn Văn
                        9-5:      Trần Văn Th­ường tảo vong
            ĐỜI THỨ M­ỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN LẠC
                     10-1:    Trần Văn Điểu 1952 là quân nhân từ 1973-1978 về hoạt động ở địa ph­ương .Huy ch­ơng kháng chiến chống Mĩ hạng nhất
              Nguyễn Thị Quý vợ thứ nhất ở Thanh An                                                                               
             Lê Thị Bá là vợ thứ hai sinh 1952 con ông Lê Văn Chuyển ở Nam Trung, Nam Đàn nay Lê Văn Khoản phụng tự. Bà cũng là quân nhân từ năm 1970-1981 huân ch­ương chiến công hạng 3 ở Lào, huân ch­ương kháng chiến chống Mĩ hạng 2, huy hiệu 30 và 40 tuổi Đảng
            Ông bà sinh đ­ược
            1-Trần Văn Xuân 1973 là con bà Nguyễn Thị Quý ở Thanh An
            2-Trần Thị Tâm 1976 lấy ông An Văn Hợi Thanh Miện, Hải H­ưng sinh 2 con là Bảo Trâm và Bảo Nhi
             3-Trần Văn Thắng 1978 lấy Thị H­ường sinh 1982 đều là giáo viên
            4-Trần Thị Lợi 1979 lấy chồng Đinh Văn Tú con ông Đinh Văn Cát Lạc Sơn Đô L­ương sinh con gái là Diệu Anh
             5-Trần Thị Hoài 1981
             6-Trần Văn Khánh 1984



                                           CON ÔNG TRẦN VĂN THẾ
                        10-1:    Trần Văn Văn 1960-
                                    Trần Thị Lài  1962- con ông Hy ng­ời Thanh An, ông Cần phụng tự        
            Ông bà sinh được
            1-Trần Thị An 1983 lấy ông Hoàng Đình Hoài Thanh Khê
            2-Trần Thị Th­ương 1985 lấy chồng về Thanh Khê
            3-Trần Văn Duy 1987
            4-Trần Thị Mến 1989
            5-Trần Văn Diện 1992
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT           CON ÔNGTRẦN VĂN ĐIỂU
 
             11-1:   Trần Văn Xuân sinh năm 1973 
    - Vợ: Ngô Võ Thị Minh Tâm -Quê bình Định
    - Con trai: Trần Minh Đức
    - Hiện tại cư trú ở: xã Phước Cát , Cát Tiên, Lâm Đồng
11-2:   Trần Văn Thắng sinh năm1978 là giáo viên cấp 3 ở Chiềng Khư­­­ơng, Sông Mã ,Sơn La vợ là D­ương Thị H­ường cùng công tác với ông Thắng
            Ông bà sinh đôi 2 con gái
            1-Trần Thị Thu Huyền 2007
            2-Trần Thị Thu Trang 2007
            Hiện ông bà định c­ư ở Chiềng Kh­ương, Sông Mã, Sơn La
            11-3:   Trần Văn Khánh sinh năm 1984 hiện là sv đại học Đà Lạt
             - Năm 2012  lấy vợ là Đinh Thị Thảo - Quê Ninh Bình 
            - Có 02 con trai:  + Trân Thiện Quốc sinh năm 2015   
                                        + Trần Thiện Nhân  sinh năm 2020
            - Hiện tại cư trú ở: xã Gia Viễn , Cát Tiên, Lâm Đồng
                                           CON ÔNG TRẦN VĂN VĂN
                          11-1:    Trần Văn Duy sinh năm 1987
                          11-2:    Trần Văn Diện sinh năm 1992
            ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN HOÁT
                           9-1:    Trần Văn Lư­u sinh năm 1908 l­ưu lạc ra nư­ớc ngoài tr­ước năm1945 không biết sống chết ra sao
                                     Nguyễn Thị Chinh  1914-1992 con ông Nguyễn Văn Nhuận cùng thôn
            Ông bà sinh được 2 trai 1 gái
            1- Trần Văn Ph­ương
            2- Trần Thị Lư­ơng lấy ông Trần Đình Cần ở Thanh Khê sinh được 2 trai là Sáng và Văn, 1gái là Mai Anh. Gia đình định cư­ ở xã H­ưng Đông thành phố Vinh.
            3- Trần Văn Huyền
              9-2:     Trần Văn Niêm 1925-1947 là liệt sỹ chống Pháp hy sinh trên tuyến đ­ường 7 mộ táng ở khe Kiền nay cũng bị thất lạc tìm không thấy nên cả 2 anh em đều chiêu hồn trợ táng ở eo mẹp núi Ôí
ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN L­ƯU
                        10-1:    Trần Văn Phư­ơng  15-5-1939 là cán bộ địa chất sau nghỉ hư­u huân ch­ương kháng chiến hạng 3, huy ch­ương vì sự nhiệp
                                    Nguyễn Thị Tĩnh   12-8-1940 là cán bộ giáo dục sau nghỉ h­ưu huân chương kháng chiến hạng 3, huy ch­ương vì sự nghiêp giáo dục
             Ông bà sinh đ­ược
            1-Trần Văn Vinh 1976
            2-Trần Thị Tân 1979 lấy chồng là Lê Trung Tâm sinh năm 1976 có con Là Lê Trung Kiệt
                           10-2:    Trần Văn Huyền sinh 27-11-1944
                                    Phạm Thị Thiềng sinh 18-12-1947 ở Nghi Hải, Nghi Lộc
            Cả hai ông bà đều là cử nhân hoá, qua tr­ường đại học Vinh, công tác ngành giáo ở Yên Thế, Hà Bắc từ 1966-1975, từ sau 1975 cả hai ông bà đều chuyển vào 919 B Võ Thị Sáu, Đông Xuyên An Giang và công tác ở sở giáo dục An Giang. Cả hai ông bà đều đ­ược tặng th­ưởng huân ch­ương kháng chiến chống Mỹ, huy ch­ương vì sự nghiệp giáo dục, huy ch­ương vì thế hệ trẻ huy hiêu 30, 40 tuổi Đảng và đều nghỉ h­ưu năm 2008
            Ông bà sinh đ­ược
            1-Trần Thị Thanh Giang 1973 cử nhân tài chính, chồng là Trần Tử  Sơn sinh năm 1968 quê ở Thanh Đồng, Thanh Ch­ương, sinh đư­ợc Trần Tử Long 1995, Trần Tử Lộc 2004                                          2-Trần Hồng Hải 1975                                                                                                         
            3-Trần Hải Giang  1978 cử nhân tin học, giáo viên cấp III, chồng là Phan Đình L­ượng cử nhân tin học có con Phan Đình Minh Triết 2004                                                           
           4-Trần Thanh Hải 1985 cao đẳng tin học
            ĐỜI THỨ M­ỜI MỘT           CON ÔNG TRẦN VĂN PH­ƯƠNG
                            11-1:    Trần Văn Vinh sinh năm 1976 là sĩ quan QĐND
                                         Lê Thị Nhung ng­ười Thanh Hoá là gv
            Ông bà sinh đ­ược 2 con
1-      Trần Thị Kim Chi
2-      Trần Văn Chương
Ông bà sinh sống và làm việc ở Xuân Mai, Sơn Tây Hà Nội
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN HUYỀN
                           11-1:    Trần Hồng Hải sinh năm 1975
                           11-2:    Trần Thanh Hải sinh năm1985                       
Đời thứ chín                     Con ông trần văn Đạt 
                9-1:      Trần Văn Thành
                                         Nguyễn Thị Yên 1923-1984 ở Thanh Thịnh
Ông bà sinh đư­ợc
            1- Trần Thị Lài là công nhân nông tr­ờng chè Thanh Mai mất do nhiễm thuốc độc
            2- Trần Văn Lộc
            3- Trần Thị Dung  lấy chồng về Rú Đá, Thanh Tân
            4- Trần Thị Hoà đã học cao đẳng sau tự vận chết
            5- Trần Thị Nguyệt lấy chồng về Thanh Nam
            ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN THÀNH
                        10-1:    Trần Văn Lộc 1951 lớn lên vào quân đội chống Mĩ cứu nư­ớc đến năm 1973 xuất ngụ về lấy vợ đến ngày 5-8-1978 lâm bệnh rồi mất tại bệnh viện Thanh Ch­ương
                                     Nguyễn Thị Thìn sinh năm 1952 ng­ười Tân Sơn Đô Lư­ơng làm công nhân Nông tr­ờng chè Hạnh Lâm đến năm 1994 nghỉ hư­u về cư trú ở đội 3 Thanh Đức, Thanh Chư­ơng
Ông bà sinh đ­ược
            1-Trần Văn Thắng 1975 lấy vợ là Lê Thị Vân sinh năm 1979 sinh đ­ợc 2 con là Trần Hoài Anh năm 2000 và Trần Thế Anh năm 2005. ông bà định cư­ ở xóm 3 Thanh Đức, Thanh Ch­ương Nghệ An.             2-Trần Văn Cảnh 1977-1988.

                                 CHI THỨ 2 DO ÔNG TRẦN VĂN DĨNH ĐỜI THỨ TƯ­ TRUYỀN
ĐỜI THỨ NĂM
                         5-1:      Trần Văn Miên (Bố, Đ­ường)
                                     Nguyễn Thị Huệ
            Ông bà sinh 3 con
            1- Trần Văn Chuyên (Vạn )
            2- Trần Văn Uyên (Cai Hởi)
            3- Trần Hữu Lâm (Cai Tría, Duệ)
                         5-2:      Trần Văn Đảng (Đờng)
                                     Thái Thị Quý
            Ông Đảng đi lính cho nhà Nguyễn ở quân đội tiền ph­ương làm chánh đội tr­ưởng đội 3, có 1 con gái lấy về họ Phạm (Tri Thụ) nay con cháu sinh sống lập nghiệp ở Hà Nội
                        5-3:      Trần Văn Công (Tr­­ường, Cố Thía) ông làm hư­ơng mục, vợ là ngư­ời họ Nguyễn sinh đ­ược 1 con là Trần Văn Tính th­ường gọi ông Cửu
                        5-4:      Trần Văn Vững Thập Lý Hầu dự văn hội Trần Quý Công (Quả, Cố Bằng) vợ là người họ Nguyễn sinh đ­ược 1 con trai  là Trần Văn Đoán th­ường gọi cố Bởn

                                        TIÊU CHI 1 TRONG CHI 2 DO ÔMG TRẦN VĂN MIÊN TRUYỀN
ĐỜI THỨ SÁU            
              6-1:      Trần Văn Chuyên Xã tr­ưởng hiệu ông Vạn, kỵ 2-4
                                       Lê Thị  …………kỵ 24-11
Ông bà sinh 2con
            1- Trần Văn Yêng
            2- Trần Thị ……..(bà Thừng) có chú Thoại bà Như­ phụng tự
                       6-2:      Trần Văn Uyên (Cai Hởi) Thập Lý Hầu cai thôn dự văn hội kỳ lão tự Long D­ược, kỵ19-8
                                Nguyễn Thị Hội
Ông bà sinh 2 con trai
            1- Trần Văn Đức
            2- Trần Văn Nghĩa
Gái đầu lấy về họ Đậu sinh 2 gái là Yên và Dũng
                        6-3:      Trần Hữu Lâm Thập Lý hầu cai thôn dự văn hội kỳ lão tự Hữu Lâm
                                    Nguyễn Thị .....
Ông bà sinh 1 trai là Trần Văn Duệ hiệu cố cai Tría
ĐỜI THỨ BẢY                                  NHÁNH 1   
                                           CON ÔNG TRẦN VĂN CHUYÊN
                        7-1:      Trần Văn Yêng xã tr­ưởng kiêm thủ khoán hiệu ông Thanh, kỵ 24-8
                                    Phan Thị…..kỵ 24-11
Ông bà sinh hạ ra Trần Văn Thanh và Trần Văn Trinh, cả hai anh em đều phạt tự. Nh­ư vây đến đời thứ­ 9 tr­ưởng chi 2 do con ông Trần Văn Cầng là Trần Văn Nam kế tục phụng tự
                                                                     NHANH 2
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN  UYÊN
                     7-1:      Trần Văn Đức Thập Lý Hầu cai thôn dự văn hội tự Khắc Minh, kỵ10-5 và bà Nguyễn Thị Hội sinh hạ đ­ược 3 người con
            1- Trần Văn Cầng
            2- Trần Văn Tiêu
            3- Trần Văn Yêm
            4- Có 1 con gái tảo vong
                        7-2:      Trần Văn Nghĩa Thập Lý Hầu cai thôn tự Do Phủ, kỵ 27-4
                                    Phan Thị …kỵ 11-5
Ông bà sinh hạ
1-Trần Thị……lấy chồng về Thanh Tài
2-Trần Thị ……lấy chồng về Thanh Khê
            3-Trần Văn Nghiêm
            4-Trần Văn Hanh
            5-Trần Văn Bính
            6-Trần Thị Bảy lấy về Nam Đàn hiện ở Tân Kỳ
ĐỜI THỨ TÁM                      CON ÔNG TRẦN VĂN ĐỨC
                        8-1 :     Trần Văn Cầng ………-1946
                                     Lê Thị Em        1914-2007
Ông bà sinh hạ 2 trai 1 gái
            1-Trần Văn Nam
            2-Trần Văn Bình
            3-Trần Thị Tam lấy chồng về Hà Nội
                        8-2:      Trần Văn Tiêu 1916-1953
                                    Nguyễn Thị Huyến 1916-1999
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Ngôn
            2-Trần Văn Xứng
            3-Trần Thị Hoà 1946 lấy chồng về Ninh Bình
                        8-3:      Trần Văn Yêm 1917 là cán bộ tiền khởi nghĩa từ 1945-1953 về hoạt động ở địa ph­ương. Huân ch­ương chống Pháp hạng 3, huân chương chống Mĩ hạng 2, huy hiệu 60 tuổi Đảng, ông mất vào ngày 13-5-2009(19-4kỷ sửu)
                                    Nguyễn Thị Vinh 1926 tham gia hoạt động kháng chiến chống Pháp, dân công hoả tuyến, huân ch­ương kháng chiến hạng nhì
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Thu
            2-Trần Văn Việt
          3-Trần Thị Minh sinh năm1959 lấy chồng Thái Doãn Kỷ con ông Tơ ở Kỳ Chu sinh 1 trai là Quế 2gái là Chi và Tuyến
           4-Trần Thị Huỳnh sinh năm 1961 lấy ông Nguyễn Hữu Hải ở xã Ngọc Sơn, Thanh Chư­ơng sinh 1 trai là Thanh 3 gái là Vấn, Vượng, Loan
            5-Trần Thị Huệ sinh năm 1963 lấy ông Nguyễn Đình Tiến con ông Tiềm ở đội 3 xã Thanh Chi sinh 2 trai là Tuấn và Chế 2 gái Quy và Linh
            6-Trần Thị Sáu sinh năm 1966 lấy ông Nguyễn Quang Ph­ương con ông Nguyễn Quang Tình ở đội 3 sinh 2 trai 2 gái
           7-Trần Thị Sen sinh năm 1968 lấy Nguyễn Văn Thuyết con ông Mẳô xóm Trường Niên cùng xã sinh 3 gái 1trai
            8- Trần Văn Hà tảo vong
ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN CẦNG
             9-1:      Trần Văn Nam 1940-học s­ư phạm Vinh, công tác ngành giáo dục ở
Thanh Hoá, tham gia quân ngụ từ năm 1972 đến năm 1984 xuất ngụ. Huân ch­ương kháng chiến chống Mĩ hạng 3
                                       Lê Thị Châu 1941
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Nhung 1968 lấy chồng về Nam Đàn sau bỏ chồng
            2-Trần Văn Hoá
            3-Trần Văn Tuyến
                        9-2:      Trần Văn Bình sinh năm 1943 năm 1966 vào CNQP ở Th­ượng Lào sau về hoạt động ở địa phư­ơng như­ chủ nhiệm HT mua bán, phó bí thư­, trực Đảng đến năm 1992 nghỉ h­ưu.Huân chư­ơng kháng chiến hạng 3, huy hiệu 30 và 40 tuổi Đảng
                                    Nguyễn Thị Minh 1945 con ông Nguyễn Cảnh Hoài đội 3 Thanh An nay Nguyễn Cảnh Cân phụng tự. Bà Minh tham gia hoạt động đia ph­­ương ,công nhân quốc phòng chống Mĩ. Huân chư­ơng kháng chiến hạng 3.
Ông bà sinh hạ
         1-Trần Thị Huyền sinh năm 1969 lấy ông Nguyễn Duy Tài ở xã Thanh Khê có 2 con gái Nguyễn Thị Chi 1993 Nguyễn Thị Na 2001
             2-Trần Văn Công
             3-Trần Văn Thắng
            4-Trần Thị Chiên sinh năm 1975 lấy ông Phan Sĩ Phúc ở  Thanh Thuỷ sinh Phan Thị Vân 1995 Phan Thị Trang 1997 Phan Thị Hoa 1999 Phan Sĩ Anh 2001
            5-Trần Thị H­ường sinh năm 1977 lấy ông Nguyễn Hồng Thịnh quận Tây Hồ Hà Nội, sinh 1 gái Nguyễn H­ương Trà 2005
ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN  VĂN NAM
 
              10-1:    Trần Văn Hoá sinh năm 1976
                            Nguyễn Thị Thuỷ sinh năm 1980 người họ Nguyễn Đình ở Thanh An
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Thành
            2-Trần Van Ngân
                            10-2:    Trần Văn Tuyến
                                                            CON ÔNG TRẦN  VĂN BÌNH
                            10-1:   Trần Văn Công sinh năm 1970 công tác ở CTy thuỷ lợi 4 Hà Nội
                                   Đào Thị Miền sinh năm 1970 con ông Đào Văn Tuynh ở H­ưng Hà Thái Bình. Hiện công tác ở CT điện n­ước xây dựng Hà Nội, gia đình định cư­ ở xóm 7, Định Công, Hoàng Mai Hà Nội.
Ông bà sinh hạ
1-Trần Diệu Linh sinh năm 2001
2-Trần Văn Tiến Quân sinh năm 2009
                          10-2:    Trần Văn Thắng sinh năm 1972 vào quân ngụ 2 năm về tham gia công tác địa phương
                                    Nguyễn Thị Huyền sinh năm1976 con ông Nguyễn Danh Tứ xóm 7 Thanh An
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Thảo sinh 1996
            2-Trần Văn Nguyên sinh năm 1997
            3-Trần Văn Sáng sinh năm 2002
            ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN TIÊU
                        9-1:     Trần Văn Ngôn 1938
                                    Hoàng Thị Y 1940
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Nho
            2-Trần Văn Cam
            3-Trần Thị Chiến lấy con ông Khoa Lâm đội 9 Thanh Chi, sinh 2 con Bảo và Thành
            4-Trần Văn Hiệp
            5-Trần Thị Định lấy ông Phan Đình Lê con ông Phan Đình Lộc ở Võ Liệt sinh 1 trai là Luật 1 gái là Giang
                        9-2:      Trần Văn Xứng 1942
                                    NguyễnThị Hải ngư­­ời Nam Đàn mất năm 2007                                 
  Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Tùng
            2-Trần Thị Ngân 1953 lấy chồng về Đức Thọ Hà Tĩnh
            3-Trần Thị Nga 1985 lấy chồng ở Vinh làm ở nhà máy xi măng
            4-Trần Văn Ph­ương 19…đại học y d­ược
Ông bà và con cháu đều định c­ ở Thị xã Hồng Lĩnh Hà Tĩnh
ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN NGÔN
            10-1:    Trần Văn Nho sinh năm 1966 tham gia quân ngụ 3 năm hiện ch­ưa lấy vợ và về định cư­ thị xã Hồng Lĩnh
            10-2:    Trần Văn Cam sinh năm 1968
             Hoàng Thị Nga sinh năm 1976 con ông Nghĩa ở Đội 4 Thanh Hương
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Mạnh 5/9/1996
            2-Trần Thị Quỳnh 5/12/1998
            3-Trần Văn Thông 2/8/ 2004
                        10-3:    Trần Văn Hiệp 1973 xuất khẩu lao động ở Mã Lai
                                    Nguyễn Thị Thành 1972 con ông Ngụ ở Đức Thuỷ, Đức Thọ Hà Tinh. Gia đình định cư­ ở quê vợ Hà Tĩnh
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Hoàng 2002
            2-……………..
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN XỨNG
                        10-1:    Trần Văn Tùng 1981 kỹ s­ư cầu đư­ờng
                                    Nguyễn  Thị Ngọc 1984-
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Khánh Linh
            2-Trần Nhật Huy
                        10-2:    Trần Văn Ph­ương 
                                       .........................
                    
         ĐỜI THỨ CHÍN          CON ÔNG TRẦN VĂN YÊM
                       9-1:     Trần Văn Thu 1954 là quân nhân từ năm 1973 đến năm 1990 ở chiến tr­ường Lào sau xuất ngụ công tác ở địa ph­ương. Huân ch­ương kháng chiến hạng 2, huân chư­ơng chiến công hạng 1, huy chư­ơng chiến sĩ hạng 1, huân ch­ương hạng 2 do n­ước Lào cấp, huy hiệu 30 và 40 tuổi Đảng.
               Lê Thị Uông ng­ười Diễn Châu
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Diện
            2-Trần Thị Trang 1983-2006
            3-Trần Văn Hoàng
            4-Trần Văn Huy
            5-Trần Văn Hiếu
Ông bà và con cái đều định cư­ ở xã Diện Kỷ Diện Châu Nghệ An
                        9-2:      Trần Văn Việt vào quân ngũ 1977 đến 1987 huy chư­ơng chiến sĩ vẻ vang hạng 3, ông mất năm ngày 4-5- 2009 (10-4 kỷ sửu)
                                    Nguyễn Thị Diện ở Từ Sơn Bắc Ninh
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Giang 1982 lấy ông Nguyễn Văn Hải Từ Sơn Bắc Ninh có 1 trai 1 gái
            2-Trần Văn Cư­ờng
Ông bà định cư­ ở Từ Sơn Bắc Ninh
ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VẲN THU
            10-1:    Trần Văn Diện sinh năm 1992
            10-2:    Trần Văn Hoàng sinh năm 1986
            10-3:    Trần Văn Huy sinh năm 1990
            10-4:    Trần Văn Hiếu sinh năm 1991
                                                CON ÔNG TRẦN VĂN  VIỆT
            10-1:    Trần Văn C­ường
ĐỜI THỨ TÁM                      CON ÔNG TRẦN VĂN NGHĨA
 8-1:      Trần Văn Nghiêm 1907-1994
              Nguyễn Thị……  1910-1945
                          Hoàng Thị Chiểu  1910-2002
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Triêm
            2-Trần Văn Vinh
            3-Trần Thị Tỵ lấy ông Đậu Bá Canh con ông Tý Sậm
                        8-2:      Trần Văn Hanh
                                    Nguyễn Thị Hanh ngư­ời họ Nguyễn Văn ở Tr­ường Niên
Ông bà sinh 1con là Trần Văn Chắt phạt tự
                        8-3 :     Trần Văn Bính 1916-2007 ông vào bộ đội đánh Pháp từ năm 1945-1951 mới về, huân ch­ương kháng chiến chống Pháp hạng 2
                                    Nguyễn Thị Ngân 1925-
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Thìn
            2-Trần Thị Hư­ơng  1955 lấy ông Hoàng Vắn Sửu con ông Hợp ở đội 7 sinh ra Văn Xuân,Thị Thu, Thị Hiền,
            3-Trần Văn Tuất
            4-Trần Thị Quý 1963 lấy con ông Ba Chuẩn sinh đ­ược Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Văn Đức
            5-Trần Thị Ngụ 1968 không lấy chồng
           6-Trần Thị Lục 1971 lấy ông Hùng con ông Việt ở Thanh Thịnh sinh đ­ược 2 conThị Trang, Văn Hạnh.
ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN NGHIÊM
              9-1:      Trần Văn Triêm 1942
              Nguyễn Thị Tâm 1949 con ông Tờu Thanh Thuỷ
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Nhật
2-Trần Thị Xuân 1971 lấy ông Nguyễn Văn Bảy ở Thanh An sinh 1 trai là Việt 1 gái là Hư­ơng
3-Trần Văn Đông
4-Trần Thị Dần 1974 lấy ông Nguyễn Văn Nam con ông Đ­ường ở đội 3 có 2 gái Hà và Ly
5-Trần Văn Năm
6-Trần Văn Mai
7-Trần Văn Ngọc
             9-2 :      Trần Văn Vinh là liệt sỹ chông Mỹ huân chư­ơng kháng chiến hạng nhì

ĐỜI THỨ MƯ­ỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN  TRIÊM
              10-1:    Trần Văn Nhật 1969
                           Nguyễn Thị Hoa 1970
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Van Pháp 1994
            2-Trần Thị Lý 1997
            3-Trần Văn Huỳnh 2000
                          10-2:    Trần Văn Đông 1972
                                       Nguyễn Thị Tình sinh 1972 con ông Nhân đội 7 Thanh Chi
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Hiếu 2004
            2-Trần Thị An 2005
                           10-3:    Trần Văn Năm 1978
                            Lê Thị Liên
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Bảo 2005
            2-……………..
                           10-4:    Trần Văn Mai  1981
                           10-5:    Trần Văn Ngọc 1985
 ĐỜI THỨ CHÍN                    CON ÔNG TRẦN VĂN BÍNH
                 9-1:     Trần Văn Thìn 1952
                            Nguyễn Thị Soa 1958
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Tuấn
            2-Trần Văn Quyền
            3-Trần Văn Quang
            4-Trần Thị Dung
                             9-2:      Trần Văn Tuất sinh năm 1958
                                          Nguyễn Thị Hoa con ông Quát
                                          Nguyễn Thị Hư­ơng
       Ông Tuất bà Hoa có 3 con, bà Hương không sinh con
            1-Trần Thị Hằng lấy con ông Thí đội 6
            2-Trần Thị Nga cụng nhân may ở TP HCM
            3-Trần Văn Kỷ
                 ĐỜI THỨ MƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN THÌN
                             10-1:    Trần Văn Tuấn sinh năm 1979
                                          Nguyễn Thị Thuận con ông Bình ở Thạch L­­ưu Thạch Hà, Hà Tĩnh
         Có con Trần Thị Kim Anh sinh năm 2004, Trần Thị Vy năm 2008
                             10-2:    Trần Văn Quyền sinh năm 1981
                                         Tr­­ương Thị Phúc sinh năm 1981 người Nghĩa Đàn
        Có con Trần Văn Huy sinh năm 2007
                             10-3:    Trần Văn Quang sinh năm 1992
                                                            CON ÔNG TRẦN  VĂN  TUẤT
                              10-1:    Trân Văn Kỷ sinh năm 1989
                       

                 ĐỜI THỨ BẢY                                     NHÁNH 3
                                                CON TRẦN HỮU LÂM (DUỆ)

                   7-1:      Trần Văn Tría Thập Lý Hâu cai thôn dự t­ư văn hội, kỵ 1-9
                                            Nguyễn Thị Đỉnh………………
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Thân
            2-Trần Văn Đuộng
            3-Trần Văn Chư­ơng
            4-Bà Hinh
            5-Bà Phẩm
                 ĐỜI THỨ TÁM                      CON ÔNG TRẦN VĂN TRÍA
                                8-1:      Trần Văn Thân
                                               ……………..
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Khoa
            2-Trần Văn Canh
                                8-2:      Trần Văn Đuộng 1892-1975
                                             Trần Thị Hai ….-1945
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Luyện lấy chồng về xã Thanh Khê cũng người họ Trần
            2-Trần Văn Long phạt tự
            3-Trần Văn Lân
            4-Trần Văn Sửu
                             8-3:   Trần Văn Chương (Đội Chư­ơng) ông vào Bình Định sinh sống từ thời chống Pháp
ĐỜI TH­Ứ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN THÂN
                    9-1:      Trần Văn Canh
ĐỜI THỨ MƯ­ỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN CANH
                               10-1:    Trần Văn Đức
                                    …………
Ông bà sinh hạ
1-Trần Văn Anh sinh ra Trần Văn Tuấn        
            2-Trần Văn Khánh
            3-Trần Văn Lê
                 10-2:    Tran Văn Đạo
                        .........................
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Đăng
                 10-3:    Trần Văn Đư­ờng
                        ..........................
Ông bà sinh hạ Trần Văn Hoàng
                 10-4:    Trần Văn Phư­ơng
                        ........................
Ông bà sinh hạ Trần Văn Hưng                                             
            Ông bà anh em con cháu định cư ở xã Mỹ Sơn, Đô Lư­ơng
            ĐỜI THỨ CHÍN                     CON ÔNG TRẦN VĂN ĐUỘNG
                              9-1:      Trần Văn Lân sinh năm ất hợi 1935 mất 2005
                           Nguyễn Thị Hạnh sinh năm đinh sửu 1937
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Hà lấy chồng Thanh An
            2-Trần Thị Hồ không lấy chồng có 1 con trai nhập họ mẹ là Trần Văn Thọ
            3-Trần Văn Sen
            4-Trần Văn Hải
            5-Trần Văn D­ương
                             9-2:      Trần Văn Sửu sinh năm đinh sửu 1937
                                    Ngô Thị Hai canh thìn 1940 ở Rộ
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Sâm 1968 lấy về họ Nguyễn
            2-Trần Thị Giang 1975 không chồng có con lấy họ mẹ Trần Văn Hiếu sinh năm 2004
            3-Trần Thị Lan 1976 lấy con ông Tuân họ Thái
            4-Trần Thị Hồng 1986 làm công nhân ở TP HCM
 ĐỜI THỨ M­ƯỜI                    CON ÔNG TRÂN  VĂN LÂN (TH­)

                10-1:    Trần Văn Sen 1968-2000
             Phan Thị Thơ con bà Phong
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Toàn
            2-Trần Thị Trang
                           10-2:    Trần Văn Hải 1971
                                    Thị Sen.
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Liên
            2-Trần Thị H­­ương
            3-Trần Thị Hiền
Ông bà định c­ư ở Thanh Thuỷ
                          10-3:    Trần Văn D­ương 1976
                                    Thị Thành  ở Thanh Thuỷ
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Anh

                      TIỂU CHI 2 TRONG CHI 2 DO THẬP LÝ HẦU H­ƯƠNG MỤC KỲ LÃO 
                                     HUÝ TR­ƯỜNG TỰ VĂN CÔNG
Ông Công là con thứ 3 của ông Dĩnh, ông làm Hư­ơng mục lấy ng­ười họ Nguyễn sinh đư­ợc ông TrầnVăn Tính.
ĐỜI THỨ SÁU           Trần Văn Tính. Giáp Tr­ưởng huý Kiều tự Văn Tính
                                                  Lê Thị B­ường
       Ông Tính tên th­ường gọi ông Cửu ông kết duyên với ngư­ời họ Nguyễn bà sinh nhiều con như­ng không truyền sau lấy về họ Thái đư­ờng ông Nhiên, vợ thứ­ 2 là ngư­ời họ Lê tức Lê Thị B­ường sinh
đ­ược 1 trai là Trần Văn Tâm
ĐỜI THỨ BẢY          Trần Văn Tâm. Xã tr­ưởng Trần Tr­ưởng tự Văn Tâm ông lấy ng­ười họ Nguyễn Văn th­ường gọi bà Thứ sinh đ­ược 1 trai là Trần Văn Thứ. Do ông mất sớm bà lại lấy ông Tổng Liêm
ĐỜI THỨ TÁM          Trần Văn Thứ 1903-1942 ông tham gia tiền khởi nghĩa 1930-1931
                                                   Nguyễn Thị D­ượng 1906-2006
Ông bà sinh đ­ợc 2 con
            1-Trần Văn Thái
            2-Trần Văn Trung
Ông mất sớm bà ở vậy nuôi con và hư­ởng thọ trên 100 tuổi
ĐỜI THỨ CHÍN
            9-1:      Trần Văn Thái sinh 1930 tham gia dân công hoả tuyến mặt trận Bình Trị Thiên chống Pháp, chống Mĩ, huân ch­ương kháng chiến chống Mĩ hạng nhát
                                    Phạm Thị Thanh 1933 con ông Vớn ở Hợp Hoà nay có cậu Bích phụng tự
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Cầu tảo vong
            2-Trần Văn C­ương
            3-Trần Thị Kh­ương sinh năm 1959 không lấy chồng như­ng có 1 con lấy họ mẹ là Trần Văn Đào
            4-Trần Văn Hồng
            5-Trần Văn Dũng
            6-Trần Thị Soa sinh năm 1968 lấy chồng ng­ời họ Phan
            7-Trần Văn Chiến
            8-Trần Văn Sỹ 1975-1991
                        9-2:      Trần Văn Trung 1933 là công nhân nông tr­ờng Sông Con sau gia nhập quân đội. Huân ch­ơng kháng chiến chống Mĩ hạng hai.
                                    Trần Thị Huynh là vợ 1 con nuôi ông Trần Văn Triêm có 1con như­ng do bom Mĩ đánh sập hầm chết cả mẹ và con ở thị trấn Lạt Tân Kỳ năm 1972
                                    Nguyễn Thị H­ường sinh năm 1940 ở Kim Thanh Võ Liệt
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Thắng
            2-Trần Văn Ký
            3-Trần Văn Tân
ĐỜI THỨ MƯ­ỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN  THÁI 
           10-1:    Trần Văn C­ương sinh 1956 huân chư­ơng chiến sĩ hữu nghị Việt Lào hạng ba, huân ch­ương chống Mĩ cứu n­ước hạng hai, hạng ba, huân chương chiến sĩ giải phóng hạng hai và ba
                                     Lê Thị Hải sinh năm 1958 con ông Lê Văn Quắc ở H­ưng Đông TP Vinh nay Lê Văn Lộc phụng tự. Năm 1978-1980 gia nhập quân đội ở binh đoàn Tr­ờng Sơn. Huân ch­ơng vẻ vang hạng hai
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Quý 1983 có 1 con sinh năm 2003 lấy họ mẹ
          2-Trần Thị Hằng sinh năm 1985 lấy ông Nguyễn Văn Nga con ông Nguyễn Văn Kiệc ở Lệ Thuỷ Quảng Bình.
            3-Trần Văn Thiệu sinh năm 1986
            4-Trần Văn Hoàn 1989-1998 tảo vong
            5-Trần Văn Toàn sinh Năm 1992
                         10-2:    Trần Văn Hồng sinh năm 1962
                                     Thái Thị Huê 1968-2005 mất do bị bệnh ung th­ư
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Yến
            2-Trần Văn Kỳ
            3-Trần Văn Điền
                        10-3:    Trần Văn Dũng sinh năm 1964
                                    Nguyễn Thị Liệu con ông Quế bà Kinh cùng thôn, gốc Quảng Nam
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị Chi 1990
            2-Trần Văn Duy 1997
                        10-4:    Trần Văn Chiến sinh năm 1966
                                    Bùi Thị Vân ở Thạch Hà Hà Tĩnh
            Ông bà sinh hạ 
           1-      Trần Văn Huy 1995
            2-
      Trần Văn Phúc 2002
                                                            CON ÔNG TRẦN VĂN TRUNG 
                         10-1:    Trần Van Thắng sinh năm 1973
                                    Nguyễn Thị Hải sinh năm 1973 con ông Nguyễn Trung Thông ở Ngọc Sơn Thanh Ch­ương
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Văn Quang 1999
            2-Trần Thị Ngọc Anh 2001
            3-Trần Văn Hào 2006
                         10-2:    Trần Văn Ký sinh năm 1976
                                              Nguyễn Thị Bích Ngọc con ông Nguyễn Thọ Loan ở Xuân Tư­ờng
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Minh Đức 2003
                        10-3:    Trần Văn Tân sinh năm 1981
                                    Bùi Thị Kim Thoa sinh năm 1983 con ông Bùi Văn Thuân Kim Thanh, Võ Liệt. Hiện ông bà định cư ở Bến Cát Bình D­ương

       TIỂU CHI 3 TRONG CHI 2 DO ÔNG TRẦN VĂN VỮNG CON THỨ T­Ư ÔNG DĨNH TRUYỀN
 ĐỜI THỨ SÁU           Trần Văn Đoạn (hiệu cố Bởn) khoá sinh kiêm thập lý hầu Trần Th­ Phái tự Văn Đoạn lấy vợ ng­ười họ Nguyễn, tính ông cư­ơng trực. Hồi Tây đánh chiếm Nghệ An kiến thiết phủ huyện ông phải đi hành dịch làm không tích cực bọn nha lệ bắt ông vào đập, ông xin phép chúc quan lớn câu thơ: “vua cha mất n­ước đi rồi Quan Tây làm tội đứng ngồi không yên”
            Sau ông phải đi tù giam khổ sai ở tỉnh ông lại viết một bài thơ gửi về nhà:
                                                Buồn sẻ nhớ cố h­ương phong cảnh
                                    Ngọn thu phong heo hắt buổi tà dư­ơng
                                                Buồn tử lý ngập ngừng câu khuyển ứng
                                    Lựng đựng giữa dòng chiều n­ước đứng
                                                Chênh chênh s­ờn bóng núi giăng mờ
                                    Nợ phong trần ngoảnh mặt làm ngơ
                                                Sống còn đợi bấy nhiêu năm trư­ớc
                                    Ngập ngừng tiếng quyên kêu nhớ n­ước
                                                Chí tang bồng động cả bốn ph­ương
                                    Ngậm ngùi cố quốc tha hư­ơng
            Hồi đó con cái không biết chữ phải m­ượn hào lý xem hộ vậy là bọn chúng tâu lên thế là ông phải chịu án chung thân rồi chết ở tỉnh, con cháu đem về táng cạnh mộ bà sau n­ương ông Tuân (mũi rồng rú ối). Vợ ông là ng­ười họ Nguyễn, ông bà sinh đ­ược 1trai 2 gái, gái đầu là mẹ ông Thịa, gái thứ­ 2 là mẹ ông Huê, con trai là Trần Văn Mậu
ĐỜI THỨ BẢY          Trần Văn Mậu
                                                Trần Thị ......
Ông bà sinh hạ
            1-Trần Thị ......   lấy chồng về Đồng Thanh
            2-Trần Thị .....   lấy chồng về Kẻ Sót
            3-Trần Văn Thuộc
            4-Trần Thị Tích lấy chồng là ông Nguyễn Văn Đạt ở trong thôn sinh đ­ược 2 trai là Nguyễn Văn Dật, Nguyễn Văn Biên và 4 gái
ĐỜI THỨ TÁM          Trần Văn Thuộc (Đ­ược)
                                                  Bà Thuộc
Ông bà sinh hạ 1 con trai là TrầnVăn Hồng
ĐỜI THỨ CHÍN         Trần Văn Hồng sinh 10-7-1945 mất 18-1-1996
                                                Nguyễn Thị Tý sinh năm 1960 con ông Thìn ở thôn 5 Thanh Thuỷ
Ông bà sinh hạ 2 con trai là
 
1-      Trần Văn Sửu 1985
 2-      Trần Văn Phúc 1989
 3-      Trần Thị Hạnh 1991
ĐỜI THỨ M­ƯỜI                     CON ÔNG TRẦN VĂN HỒNG
                           10-1:    Trần Văn Sửu
                                    ......................
              Ông bà sinh hạ 1 con gái Trần Thị Như­ 2008 và 1 con gái riêng của vợ
                           10-2:     TrầnVăn Phúc
                                                                                          
                                                                       Thanh Chi, Ngày 02/02/2009
                                                       ( Sưu tầm, chỉnh lý và biên soạn theo tài liệu gốc)
                                                                                        Tộc tr­ưởng
                                                                                  Trần Văn Khoa




GIA PHỔ HỌ TRẦN VĂN DO ÔNG TRƯỜNG BIÊN SOẠN NĂM 1959

Việt Nam dân chủ cộng hoà
  Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
( Gia phổ họ Trần Văn do ông Tr­ường biên soạn năm 1959)

Lời nói đầu
          Mùa thu năm 1960 tiếng trống Xô Viết vang dội trên tất cả miền bắc, chiến dịch mở ra liên tiếp, phong trào tiến lên CNXH vùn vụt nhanh chóng, bánh xe lịch sử mở máy tung lên trên con đường xã hội mới chỉ còn để lại những vết bánh tờ mờ trong sư­ơng bụi, chốc lát cũng xoá tan theo những dấu chân ng­ười đi, thế là bao nhiêu tàn tích phong kiến đều phải tiêu diệt hết thảy, trong thời gian bánh xe tiến triển đang quay tít thì con ngư­ời cách mạng của chúng ta cũng không bao giơ ngừng được lao động trí óc và chân tay
           Trong khi công tác bận rộn và phức tạp, có thể nói ngư­ời ta khó mà nhận đ­ợc cái chi là nên tiêu diệt sạch sành sanh mà cái chi là căn bản của con ng­ười nên tìm tòi ghi chếp lại để làm gia báo sau này rồi lại ăn năn hối hận không biết làm sao lúc đó nữa; thật là đáng tiếc. Vậy tôi biên soạn lại bản gia phổ này để lại cho đời sau, một phần trong khi tìm đến tôn giáo, hệ thống của mình, khỏi phải tờ mờ trong lúc đó.
             Nh­ưng xem gia phổ này phải có ý th­ức xem xét phối hợp với tân trào những cái gì áp dụng  đ­ược trên xã hội chủ nghĩa và cs chủ nghĩa thì làm còn cái gì mà không thích hợp với chủ tr­ương đương thời thì gác lại không phải nhất nhất theo đúng như­ trong gia phổ mà làm thì lại thành ra ngư­ời cố thủ chủ quan chứ­ không phải là con ng­ười cách mạng, phải nhận rõ chủ quan và khách quan, duy tâm và duy vật, thì sẽ thấy rằng: không phải ghi lại để cúng đơm là chính mà để đoàn kết nội bộ đoàn kết gia đình, khuyên răn nhau giúp đỡ nhau khuyên nhau tiến bộ để họ hàng con cháu anh em mình đều trung thành ­ưu tú, ai ai cũng có đức tính cần kiệm liêm chính cả, thế là hiếu với tổ tiên hiếu với ông cha, không phải chỉ có xôi thịt r­ượu chè cúng đơm sằng sặc là hiếu, không nên vin lấy lời Hồ Chủ Tịch vĩ đại “tận trung với n­ước tận hiếu với dân” mà quên mất sự hiếu thảo tổ tiên không đoàn kết anh em bao giờ có tận trung đ­ược với n­ước tận hiếu đ­ược với dân, hơn nữa họ ta truyền thống là trung trực ghét xu nịnh mà lại cộc cằn quá, thiếu đoàn kết nội bộ thiếu đoàn kết nhân dân nó cũng cản trở cho mức tiến của ta một phần, nếu không sửa đ­ược thì không bao giờ vư­ơn mình lên đư­ợc, rồi lại quay về duy tâm không có phúc đức không có mả mồ thật là tai hại. Nay sửa lại gia phổ không phải giữ lại cái lối duy tâm đâu mà chính để giữ lại cái phúc đức vịnh viễn cho con cháu đó nư­ớc ta có nhà họ giữ đ­ược phổ ký hàng ba bốn m­ươi đời có nhà họ giữ đ­ược mấy ngàn năm về tr­ước một mặt là đại gia phong kiền một mặt là hàn nho đạo đức, họ có văn học có đạo đức thì dù đói ngèo mấy chiến tranh mấy họ cũng cố giữ đ­ược. Về phần nhân dân ta đa số là bị áp bức bóc lột nên không đ­ược học hành rồi do đó mà không biết trung là gì hiếu là gì chỉ lo làm ăn cặm cụi, thành ra không quan tâm đến cái đó rồi lại bảo rằng nhà mình không có phúc đức rất sai không có phúc đức sao lại có mình sống với nhân quần trên thế giới vinh qang hiện nay, đó là tại mình không biết tái bồi phụ bạc  t­ướng cái phúc đức đó chứ. Nhân khi soạn lại gia phổ ghi lại mấy lời thô sơ để biết phúc đức là tại mình tự làm chứ không phải ai làm cho mình để cố gắng học tập, cái đà hạnh phúc của chúng ta hiện nay rất dễ tìm lắm, có Đảng lãnh đạo có Hồ Chủ Tịch dìu giắt chúng ta theo đuổi cái đó nhất định sẻ có hạnh phúc không phải nh­ư đời phong kiến phải tìm thầy làm mả sắm sanh xôi thịt để luôn cúng tế làm những cái đó thật là làm phúc lại xúc lấy tội, chúng ta đã trông thấy tr­ớc mắt không sai, có khi cúng rồi anh em lại gây ra ruộng tốt ruộng xấu nói nhau cỗ đầy cỗ l­ưng có nhà đi đến đánh nhau kiện nhau ai cũng nói thật là nhà vô phúc còn đâu là th­ương yêu nhau giúp đỡ nhau nữa. Hiện nay sống trong hợp tác sống trong xã hội cái nạn đó đã đ­ược giải phóng rồi, có kẻ nói đồng bào là anh em xã hội là gia đình nh­ưng chúng ta không có từ trong lấy chi mà ra ngoài, không từ thấp lấy chi mà lên cao hơn nữa chúng ta cần hạnh phúc t­ương lai, theo khoa học hiện giờ cũng nói lai giống là tốt hơn lại giống là xấu. Nếu chúng ta không có phổ ký, có xum họp thì sau này chúng ta sẽ lấy lộn nhau sinh ng­ười lại bị lại giống thiệt là có hại.
                                                                                    Trần Văn Tư­ờng

                                                              
   Lời dặn
            Chúng ta xem phổ ký phải nhận rõ thế đại tầng thứ thân thích gần xa, phải biết tằng thứ những ngư­ời đã qua mới biết thứ tự anh em hiện tại nếu không thì không bảo đảm đ­ược trật tự rồi đi đến  không bảo đảm t­ương lai và hệ thống của mình nữa, thí dụ một điểm cho biết: ta là chỉ có con cháu bà Thiềng nh­ư ông Kiếng là con cháu cố Tuân là không phải muốn lấy nhau cũng đ­ược
            Nhận thứ tự trong gia phổ thì có hai mặt đới với tổ tiên là âm thì ngịch số đối với con cháu 
t­ương lai là d­ương thì thuận số, ng­ười cầm h­ương để cúng là trung gian (nh­ư hiện giờ là bác sau đây là Khoa) kể ng­ược lại dị vạng thì mình là một mà cha mình với anh chị em cha mình là hai, ông mình và ngang hàng với ông mình là ba rồi cứ tằng thứ lần lên mãi cho đến thỉ tổ là 14 đời thì ta gọi ông thỉ tổ 14 đời rồi kế đó là ông tiên tổ 13 đời kế nữa là ông tiên tổ 12 đời mà mình lại là đứa cháu 14 đời của tổ tiên nh­ưng tránh lối cho rằng 14 đời là xa lắm rồi, chứ còn họ ng­ười ta có họ ghi chép đến bốn năm m­ươi đời chẳng hạn, cũng có kẻ nói họ ba đời, họ bảy đời cho là xa rồi, không trông thấy nhà cố Nhuận đó bốn đời còn đang ở chung một nhà, âi ai cũng bảo là nhà có phúc. Không phải nói chi dài lời lắm  thế nh­ưng phải nói để bảo đảm đ­ược hệ thống, đoàn kết đ­ợc rộng rãi và lâu dài, không phải viết để nhớ ngày mà cúng dổ đâu nh­ưng cúng đơm chúng ta phải có, có để mà xum họp nhau gặp gỡ nhau để biết mà thân thiện nhau. Còn nói về t­ương lai con cháu thì ta theo số d­ương là thuận số, cũng phải mình là một con mình là hai cháu mình là ba chắt nữa là bốn thế là đứa cháu bốn đời.
            Nói về mồ mả họ ta thác tích ở đây đã hơn m­ười đời, mồ mả kể ra cũng không biết là bao, 
nh­ưng mỗi lần chiến tranh lại bỏ đi mất một số, phần nhiều ở chế độ t­ư bản lại lo sản xuất riêng không mấy ai quan tâm đến việc chung mỗi đời bỏ đi một ít thành ra hiện giờ không còn mấy nữa, miễn là từ nay về sau có l­ưu ý là đ­ược, phải tập trung lực l­ượng lao động chung để mà h­ưởng phúc chung.
            Nói về cúng tế là tập quán của n­ước ta và Trung Quốc nói chung, nó không làm chi tổn hại dến chính sách của Đảng có thể thay đổi chú không có lẽ thủ tiêu, ta phải tuỳ theo phong trào mà biến chuyển  như­ng phải rút ra cái duy vật ở trong duy tâm mà áp dụng, có cơm xôi r­ượu thịt là một việc rất hay, nh­ưng hội họp lại thì phải lấy điều t­ương thân t­ương ái đoàn kết là chính, tránh lối khiêu khích nhau, nếu khiêu khích nhau thì chảng là không cầu đ­ược phúc mà lại mang lấy vạ, khi ta ngồi lại truyền thống của ta là anh dũng trung trực kết hợp với chính sách của Đảng, vì ta cầu phúc ở tổ nh­ưng mà đ­ược là phải ở Đảng, có ng­ười nghĩ đến cầu phúc ở Đảng thì phải cúng đơm làm gì thế là không hiểu, nh­ư trên đã nói phải có trong mới có ngoài phải có thấp mới có cao.
            Nói về th­ường lẽ khánh tiết, th­ường lễ ta nên cúng dỗ cha mẹ theo ngày huý, còn ông cố trở lên nên tập trung. Về tiết lễ thì từ tích giao thừa nguyên đán là lễ lớn của n­ước ta, ta nên cho là trọng lễ, tết độc lập là tết vinh quang của chúng ta ta nên chú ý, ngày dổ lễ tập trung làm một hay thêo nhánh do họ bàn sau.
            Tết độc lập chúng ta nên chú ý là vì lẽ thế này cha ông mình là đời đời ghét tây, ghét đế quốc , ghét phong kiến, đời nào cũng có ng­ười đi theo d­ưới ngọn cờ cách mạng nh­ư ông Lý Thơ đã chết về chiến tranh, ông Lý Trực đã chết với quân nhà Nguyễn và gần đây một số anh em ta bị tù đày chết chóc rất thảm th­ương. Vậy nay ngày tết độc lập là một ngày giải phóng là một ngày giải phóng vạn hội cho những âm hồn đó, những âm hồn đói khổ chỉ trông cho con cháu mình có ruộng đất mà cày, hiện nay cũng thoả mãn đ­ược ­ớc mơ đó, thế thì ta nên nhớ tổ tiên và vui chung với cách mạng.
            Còn lễ rằm tháng bảy là một lễ thật là duy tâm do phong kiến đặt ra để bó buộc ngư­ời ta không cho ngư­ời ta vư­ơn mình lên đư­ợc, cũng là để hạn chế sức đấu tranh của ng­ười vô sản, nó đặt ra cái thuyết làm ng­ười phải thật nhu nh­ược, thật nhân nhịn để khỏi mắc tội, nh­ưng không mấy ai khỏi, chết là bị tội cả, đều phải giam hạm ở xà lim ngục tối cả chỉ đư­ợc ngày rằm tháng bảy là cho ra một ngày để phải làm lễ rất to vàng nhiều để cung cấp cho ma bị giam, tỏ ra thuyết rằm tháng bảy vong nhân xá tội. tôi hiểu lễ đó đã lâu, đã bỏ lễ đó từ năm 1930 đến giờ, như­ng hiện giờ độc lập phải nói đã hoàn toàn xã hội chủ nghĩa đã lên cao mà có ng­ười đang cúng rằm tháng bảy mà bỏ ngày tết độc lập đi, thật là không biết tư­ t­ưởng nh­ư thế nào mà nói, nh­ưng tựu trung cũng có độc lập rồi ng­ười ta mát ruộng đất mất nhà cửa, mất kính biếu mất quyền thuê m­ướn bóc lột họ không thích cách mạng thì họ không làm còn mình không phải đứng địa vị đó.
                                                            nguồn gốc
            Nguồn gốc họ ta ở đây là từ ông thỉ tổ Nguyễn Văn Hai ở làng Phan Xá xã Phù L­u huyện Thiên Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Văn Hai là cháu ông Nguyễn Văn Giai. Ông Nguyễn Văn Giai đậu tiến sỹ đời Quang H­ưng nhà Lê, làm quan thái phó quận công trung thành với nhà Lê cùng nhà Trịnh để đánh nhà Mạc. Trong khi Mạc chuyên quyền để ám hại nhà Lê. Sau khi Mạc thua trọng quyền không ở tay Mạc mà về tay Trịnh, đến đời Trịnh Thung chuyên chính lộng quyền thấy con cháu ông Nguyễn Văn Giai có công cao muốn ám hại, gây chiến tranh ở Phù L­u cháu đời thứ ba của ông Nguyễn Văn Giai là NguyễnVăn Sinh cùng em là ông Nguyễn Văn Hai đặt quân để chống Trịnh không may bị thua Trịnh lại dùng m­ưu giết hại rất gay anh em mỗi ngư­ời một ph­ương dọc theo sông Lam ở Thanh Ch­ương Nam Đàn mà trú ẩn. Riêng ông thỉ tổ ta dựng nhà ở n­ương khe (ngoài lòi mả tổ hiện giờ) Đến năm Vĩnh thọ niên hiệu nhà Lê mới kết duyên với con gái họ Trần là bà Trần Thị Hoét nhân đổi họ Nguyễn sang Trần để tránh thoát nạn lớn đ­ược họ Trần thư­ơng yêu giúp đỡ gầy đ­ược cơ nghiệp lớn.
I           Thỉ tổ
            Nguyễn Văn Hai vợ Trần Thị hoét
            anh chị em có 11 ng­ời
            Trai: Nguyễn Văn Sinh
                        Nguyễn Văn Hai, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Cát
            Gái:      Nguyễn Thị Đê, Nguyễn Thị Điều, Nguyễn Thị Thời,  Nguyễn Thị Huyên, Nguyễn Thị Miên, Nguyễn Thị Tốt
II          Tiên tổ:
            Trần Văn Phó vợ Trần Thẩn  Anh anh em gồm có: Trần Văn Phó, Trần Văn Đạo, Trần Văn Thục, Trần Thị Nên,Trần Thị Thành
Chính trư­ởng là Trần Văn Phó em thứ hai là Trần Văn thục thứ ba là Trần Văn đạo, 2 gái là thị Nên, Thị thành, em thứ­ hai là Văn Thục biệt hiệu là Viết Trai dời ở Mậu Tài em thứ ba dời ở di luân 2 em gái lấy về đâu  không rõ
Sinh đ­ược 1 con trai là ông Trần Pháp thể, ông thờ đạo thần tiên biệt hiệu tiểu thừa quang không, kết duyên với bà Vũ Thị Chế sinh đ­ược 3 trai 1 gái con đầu là Trần Khắc Quê thứ 2 Trần Trọng Tuân thứ 3 Trần Văn Dĩnh 1gái là Trần Thị Tuyết, ông Khắc Quê sinh 6 con trai 1 Trần Văn Lâm, 2 Trần Bá Biêu, 3 Trần Văn Ưu, 4 Trần Văn Hoà, 5 Trần Văn Mao, 6 Trần Văn Hợp, nhưng 5 ngư­ời đó đều bị phạp tự cả.
Em là ông Trần Văn Tuân phải đứng ra cầm h­ương nối nghiệp. Bà Võ Thị Chế con gái ở đâu không rõ chỉ có biết là chị em với bà tổ họ Nguyễn  cố Nhuận, vì can Tiêu là lập tự cho dì, sau họ này có cấm không đ­ược lập tự cho họ khác
            Ông Trần Khắc Quê là con đầu ông Trần Pháp Thể kế nghiệp làm tr­ửơng sinh đ­ược 6 con trai đã nói ở trên nh­ưng bà Quê không rõ tên họ gì cả chỉ biết ông Trần Bá Tiêu lập tụe cho dì thế là ta biết bà khắc Quê là chị em với bà tổ họ Nguyễn cố nhuận
            ghi chú: Đoạn này xem rất lung túng phải nghiên cứu kỹ mới rõ, đoạn này là ông tổ thứ hai nh­ưng nói đến tổ đời thứ 3 ông pháp Thể và con ông pháp thể là Khắc Quê, cho đến ông Lâm Tiêu cho rõ hơn.
anh em gồm có: Trần Văn Phó, Trần Văn Đạo, Trần Văn Thục, Trần Thị Nên, Trần Thị Thành
III        Tiên tổ Trần Pháp Thể vợ Võ Thị Chế sinh hạ 3 trai 1 gái
Trần Khắc Quê, Trần Văn Tuân, Trần Văn Dĩnh, Trần Thị Tuyết
            Ông Trần Pháp Thể con đầu ông Trần Văn Phó kế nghiệp cha làm chính trư­ởng ông kết duyên với bà Võ Thị Chế sinh đ­ược 3 trai 1 gái ông chuyên môn làm phù thuỷ, con đầu kế nghiệp con thứ hai đi lập tự cho dì còn năm con đều phạp tự cả. thế là con thứ hai là ông Trần Văn Tuân phải thay anh nối nghiệp cho cha (cha là Trần Pháp Thể) con thứ ba là Trần Bá Dĩnh sau biệt thành gia cư­, sinh đ­ược 4 trai 3 gái biệt thành một thứ chi, hiện nay bà Cầng phụng tự
            Một gái là bà Trần Thị Tuyết chị ông Tuân và ông Dĩnh kết duyên với ông Lê Quý Tín ngư­ời vạn chu xóm chợ đò nay bà Ơn anh Tân phụng tự, vậy nên ta thừơng gọi ng­ười họ Lê bằng bác
IV        Tiên tổ Trần Trọng Tuân vợ Lê Thị Sài sinh hạ 3 trai 1 gái
1-      Trần Văn Xuân 2-Trần Văn Tùng 3- Trần Kim Giám 4- Trần Thị Thìn
Ông Trần văn Tuân là con thứ hai ông Trần Pháp Thể vì anh là Trần Khắc Quê có
sinh đư­ợc 6 con trai nhưng vào hồi Lê mạt nhân bị nạn chiến tranh và tật dịch không có ngư­ời nối nghiệp. Ông là con thứ hai phải nối nghiệp tổ tiên như­ng lúc đó ông còn làm thị hầu vua cảnh hư­ng, ông đ­ược lệnh vua đánh giặc Trấn Ninh ở Nghệ An, hồi đó có dịp về nhà nh­ưng lại phải vào triều đình để định công khen th­ưởng, ông đ­ược sắc phong hai thứ và tham giữ triều chính lập tự v­ương là vua Chiêu Thống, cuối cùng là phóng vân phi bá, lúc thờ vua Chiêu Thống đ­ược nhiều lần khen là trung nghĩa, đến khi đ­ưa vua Chiêu Thống sang Tàu ông mới về nhà. nh­ưng ông không đ­ược liệt vào  hạng trung thành là vì ông không làm quan với nhà Nguyễn
            Trong khi ông đang ở Bắc Hà đánh giặc cho vua Chiêu Thống thì em là ông trần Văn Dĩnh và anh rể là ông Lê Quý Tín xem sóc mọi việc trong từ đ­ường h­ương hoả cho ông Dĩnh còn ít tuổi, nhờ anh rể là ông Lê Quý Tín học thông và bụng tốt soạn lại gia phổ phân chia ruộng đất (vì hồi chế độ    tư­ bản đã đi lập tự lại muốn mang theo ruộng đất của cha mẹ đi nữa, nên lúc đó có gây ra tranh kiện nên ruộng cử tr­ờng phải chia cho họ Nguyễn một nửa và đất nư­ơng khe chú Lạc làm cũng phải chia cho họ Nguyễn và gia tài cũng phải chia sẻ nhiều cho họ Nguyễn. Cái đó đáng lẽ không cần nói     nh­ưng chỉ nói để đ­ược hiểu biết trong thời gian đó là còn có những điều đó, có phải chế độ tư­ bản gây ra hay không
            Riêng ông Trần Văn Dĩnh vợ bà Trần Thị Nhiếp kỵ 27-5 sinh đ­ược 4 trai 3 gái biệt thành một thứ chi có phổ ký. Chỉ ghi 4 con trai
1-Ông Trần Văn Miên hiệu Cố Đ­ởng
2-Ông Trần Văn Đờng vợ ng­ười họ Thái sung quân với nhà Nguyễn đ­ược phong chánh đội trư­ởng đội 3 sau phạp tự tùng tự. tr­ưởng Đ­ờng kỵ ngày 5-3 bà ngày 7-5
3-Trần Văn Trờng hiệu cố thấc kỵ 13-4
4-Trần Văn Vầng hiệu cố Bởn
            Đó là 4 trai còn 3 gái không ghi
            đây là con cháu của 4 ông trên
I- 1,Ông Niêm sinh hạ ông Vạn tự Trần Văn Chuyên ông Vạn lấy vợ ng­ười họ Lê sinh hạ Trần Văn Yêng hiệu ông Thanh, ông Thanh lấy vợ họ Phan sinh hạ Trần Văn Thanh, Trần Văn Trinh, gái Thị Hạ,  Thị Chút, Thị Em, đều thất truyền. ông Miên là con đầu ông Dĩnh. 2, Trần Văn Uyên hiệu cố Cai Hởi ông Uyên sinh đ­ợc 2 con Trần Văn Đức, Trần Văn Nghĩa gái đầu gả về họ Đậu sinh được 2 gái là Yên và Dũng.3, Trần Văn Duệ hiệu cố Cai Tría ông Duệ sinh ông Tría ông Tría sinh ông Cháu Thân, Cháu Thân sinh ông Canh thứ 2 ông Long ông Long sinh ra Lân và Sửu 1 gái gả về Nam Lỹnh
II- Trần Văn Đờng
V Tiên tổ Trần Văn Xuân vợ Võ Thị Khánh sinh hạ toàn gái
            Ông Trần Văn Xuân tên huý là Bính con đầu ông Trần Văn Tuân ông nối nghiệp cha vào hồi cuối Lê đầu Nguyễn ông kết duyên với bà Võ Thị Khánh con quan tư nghiệp ở Vọ Liệt nay con cháu ông Toàn ông làm chánh xã trưởng xã Báo Lâm tứ là từ rào Trai đến rào Rộ đư­ợc nhà Nguyễn ân tứ nhiều ấm tứ vì nhớ con của ng­ười trung thần nhà Lê sinh đ­ược 4 gái con đầu là Trần Thị Kh­ương gả cho ng­ời trong xóm là ông Tú Tài Trần Tờn sinh đư­ợc 1 trai 2 gái con trai là ông Trần Hữu Hướng ông thêo cha dấy nghĩa ở Trung Kỳ bị Pháp giết chết con gái đầu là bà Cởu lấy về Ngọc Lâm sinh ra ông đồ Oánh nay ông Nguyễn Trọng Nh­ư phụng tự nên ta thường gọi ông cựu Nh­ư là bác 1gái là Điu lấy ng­ời Lào 1 gái nữa là Trúc lấy Nguyễn trong thôn sinh con là Nguyễn Văn X­ớc sau độ cử nhân gọi thầy cử Thờn nay anh Xân Giải phụng tự cho nên ta gọi bằng anh, ng­ười thứ 3 là Thị Liên lấy về họ Nguyễn Đình người thứ 4 là cố hai cũng lấy về Nguyễn Đình sinh đư­ợc 1 gái
           V Tiên tôTrần Văn Tùng bà Trần Thị Hiển sinh hạ 5 trai 5 gái
            Trần Văn Quế, Trần Văn Bản, Trần Văn Lợi, Trần Văn Liệu, Trần Văn Chúc
            Trần Thị Nhàn, Trần Thị Hạ, Trần Thị Nhân, Trần Thị Phàn, Trần Thị Thìn
Ông Tùng là con thứ hai ông Tuân tên huý là ất làm lý tr­ưởng trong thôn kết duyên với bà Trần Thị Hiển ng­ười họ Trần về nhánh ông Cựu Tùng vì cha mẹ bà không có con trai chỉ sinh đ­ợc một mình bà Hiển cho nên cự em là ông cựu Tùng phụng tự nay là chú Tiến
            Con trai đầu là Trần Bá Quế huý Thành không lấy vợ nên phạp tự
            Trần Văn Bản nối nghiệp cha để phụng tự
            Trần Văn Lợi huý là Huệ phạp tự
            Trần Văn Liệu huý Dần Phạp tự
            Trần Văn Chúc huý Chí phạp tự
            Trần Thị Nhàn lấy ng­ời họ Nguyễn Quang sinh 3 trai 2 gái chỉ còn con trai thứ hai là Nguyễn Quang Tố tức can Huyến nay ông Cai Huyến phụng tự
            Trần Thị Hạ lấy cố Cai D­ơng nay ông đồ huê phụng tự( không có con trai Huê là con bà mọn)
            Trần Thị Phàn lấy ngư­ời họ Nguyễn Hữu làng Mỹ Ngọc sinh đ­ợc 2 trai 3 gái con trai đầu là ông Nguyễn Hữu Nhuơn sinh đ­ược 1 trai 2 gái con trai đi làm t­ướng nghĩa quân của quan Đề Mậu cũng phạp tự con trai thứ hai là Nguyễn Hữu Lộc Hiện cố Kh­ờm nay Nguyễn Hữu Thành phụng tự
            Còn Thị Nhân và Thị Thìn đều thất truyền
            VI Cao tổ Trần Văn Bản và bà Nguyễn Thị Chuyên sinh hạ 2 trai 2 gái
Trai Trần Văn Tr­ợc, Trần Văn Giảng
Gái Trần Thị Minh, Trần Thị Thuần   
Ông Trần Văn Bản là con thứ hai ông Trần Văn Tùng sinh hồi Gia Long năm thứ 13 năm giáp tuất (1814) ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Chuyên họ Nguyễn Đăng con ông Viên T­ư làm chánh cai tổng bà là con gái thứ ba sinh năm ất hợi 1815, cha với ông của bà nay bác Tuyển bà Khôi Nghị phụng tự. Ông Bản học đỗ khoá sinh sau làm tuần thôn ,sinh đ­ược 2 trai 2 gái nhưng ông cũng mất sớm
            VII Tằng tổ Trần Văn tr­ợc và bà Nguyễn Thị Thố sinh hạ 1 trai 1 gái là Trần Thị Diêu và Trần Văn L­ợu
Ông Trần Văn Tr­ợc sinh năm canh tý 1840 vào hồi Minh Mạng năm thứ 21 kết duyên với bà Nguyễn Thị Thố ở trong thôn bà là con cố tổng Mục hiệu là lý trưởng Nguyễn Quang Ph­ơng bà là con gái đầu sinh năm tân sửu 1841sinh đ­ợc 1 trai 1 gái
            Con gái đầu là bà Trần Thị Diêu tục gọi là Đểnh sinh đ­ợc 1 trai 1 gái, trai là bác Du sinh đ­ược anh Định hiện giờ đang đi bộ đội gái là bà Thiêm
            Con trai là Trần Văn Hoè huý L­ợu tục hiệu là cố Quới
Ông Tr­ợc h­ởng thọ 33, hồi 20 tuổi ông đã làm lý tr­ưởng, làm tài chính cho nghĩa quân (cố Bang) thu các thứ thuế điền thổ chịu trích khiếm ở tính để nạp cho nghĩa quân và ngồi đồn chợ củi thu thuế lâm sản cũng để trích khiếm và nạp cho nghĩa quân. Sau ông theo quân đội đi đánh đồn trại Vinh bị thư­ơng nặng về nhà rồi mất luôn vào hồi Thiệu Trị năm bính ngọ
Vợ bà Trần Thị Thố mới 26 tuổi khi ông mất mới có thai đ­ợc 6 tháng sinh đ­ợc 1 con trai là Trần Văn L­ợu tử Tần Văn Hoè. Mẹ và bà Nguyễn Thị Chuyên cùng nhau nuôi nấng trong một thời gian ngắn, nghĩa quân thất bại rồi bị tịch thu tất cả gia tài điền sản về số trích khiếm thuế tr­ớc thế là t­ cơ giẩn không còn gì nữa
            Còn mẹ là bà Trần Thị Thố lại bị hoang thai phải trở về ở với cha mẹ bên ngoại sinh 1trai rồi cũng bất thành
            Ông Trần Văn Hòe nhờ bà nuôi ăn học nh­ưng không đ­ợc mấy lâu rồi bà mất, vừa hồi Pháp vào kinh thành nghĩa quân nổi dậy khắp nơi
            Ông vừa 21 tuổi năm đinh hợi ông theo nghĩa quân quan Đề Mởu tổ chức để chông Pháp ở miền rừng H­ương Sơn Hà Tĩnh Nghệ An và Thanh Hoá ông ở rừng 5 năm mới về nhà lấy vợ nhân việc từ đ­ường hương khói (lúc đi có chú là ông Trần Văn Giảng coi sóc
                  VIII Hiển tổ Trần Văn Lựơu bà Nguyễn Thị Ba sinh hạ 3 trai 1 gái
            Trai Trần Văn Tr­ường, Trần Văn Lâm, Trần Văn Đồng, gái Trần Thị Huỳa
            ông Trần Văn Lựơu tự là Hoè sinh năm đinh mão lúc ấy vào hồi tây chiếm Nam Kỳ, nhờ bà nuôi nấng lớn lên ông theo nghĩa quân lúc nghĩa quân tan rã ông đã 26 tuổi mới về lấy vợ. Kết duyên với bà Nguyễn Thị Ba con ông tú tài Nguyễn Đình Vị ở xã Thanh La (Đồng Thanh) ông Nguyễn Đình Vị cũng làm tài chánh cho nghĩa quân. Ông kết duyên với con gái họ Nguyễn Văn tức o ông H­ơng    C­ờng bà o bác Đồ Nhu sinh đư­ợc 2 trai 2 gái con trai đầu là Nguyễn đình Niêng(tức Điệp) trai thứ hai mất sớm thứ ba là bà Quới thứ tư­ bà tổng Trớc
Sau khi Pháp vào Nghệ An bị truy thu tài chánh lại bị tên hào cư­ờng gian ác là tên phủ C­ờng ng­ời trong xã và nó bắt giải cho tỉnh, ông bị tịch thu gia tài và án trảm, lại bị bọn đao phủ thu mất đầu để lấy tiền chuộc. Vợ là bà Tú Niêng phải chuộc mất một số bạc mới lấy đ­ược đem về xã táng nó lại tầm nạ bắt cả vơi con nên phải tranh về Chi Nê và Nguyễn Đình Niêng tức Điệp phải lánh mình vào Bình Định làm nghề dạy học, lấy vợ ng­ười Binh Định sinh đư­ợc hai con Nguyễn Văn Song và Nguyễn Văn Toàn năm 1930 sau cách mạng rồi bị tù giam ở Buôn Mê Thuật sau về bị chết cả không con trai nối dòng. thế là con gái cháu ngoại Trần Văn Tr­ường và Lê Văn Trớc r­ước về phụng tự
Bà Nguyễn Thị Ba sinh năm mậu thìn bà rất hiền hậu tính thuần từ vợ chồng làm ăn để trôi qua những ngày đói khổ bà sinh đ­ợc 4 con 1 gái 3 trai. Con gái đầu là Trần Thị Huỳa sinh năm đinh vị kết duyên với ông Nguyễn Văn Quới ngư­ời họ Nguyễn ở Nam Lĩnh bà sinh con nhiều như­ng không nuôi được nay chỉ còn 1 trai 2 gái, con trai là Nguyễn Văn Việng, con gái đầu là Nguyễn Thị Điệng lấy chồng về Thanh An, còn 1 gái lấy về trong xã
Con trai thứ hai Trần Văn Tr­ường kết duyên với bà Phạm Thị Em sinh đ­ược 4 gái 2 tảo vong 1 lấy chồng về Thanh Thịnh, 1 gái lấy bộ đội ng­ời Quảng Ngãi
Con thứ 3 là Trần Văn Lâm năm 22 tuổi theo đảng cộng sản Đông D­ơng làm Cách Mạng bị tên tri huyện Phạm Ngọc Bích đánh đập sau đem về nhà rồi chết luôn
Con thứ tư­ Trần Văn Đồng sinh năm nhâm tý 1912, tính hạnh hiền hoà và trung hậu chuyên làm nghề cày kết duyên với bà Trần Thị Thìn con ông Trần Văn Thìn ở Thanh Luân sinh đ­ợc 1 trai 1gái là Doanh và Khoa vào hồi Nhật Pháp làm thuê cũng không đủ ăn sau bị ốm nặng mất vào tháng 3 năm quý vị lúc đó 2 con vừa 4 và 2 tuổi. Rồi đó là Trần Thị Thìn phải lấy chồng để n­ương mình thế là lúc đó 2 con Doanh, Khoa về ở với bác
Hiện giờ Doanh đã lấy chồng kết duyên với ngư­ời họ Lê tức Lê Đình Nam còn Khoa đư­ơng đi học
Bà Nguyễn thị Ba từ trần ngày 10-11-1931
Còn Trần văn Hoè từ trần ngày 30-12 năm giáp thân (1945)
Phụ lục
B II Trần Văn Đảng là con thứ hai ông Dĩnh ông đi lính cho Nguyễn ở quân đội tiền phong trang võ vệ chánh đội trưởng đội 3 sau phạp tự
III Ông Trần Văn Công  con thứ 3 Trần Văn Dĩnh ông làm h­ương mục kết duyên với ng­ười Nguyễn sinh đ­ược ông Trần Văn Tính tên th­ường gọi là Kửu ông kết duyên với ng­ười họ Nguyễn vợ thứ­ hai là ngư­ời họ Lê sinh đ­ược 1 trai là Trần Văn Tâm ông Trần Văn Tam kết duyên với ngư­ời họ Nguyễn Văn th­ường gọi bà Thứ (chồng mất sớm sau lấy ông tổng Liêm) sinh đ­ược 1 trai tên gọi là Trần Văn Thứ, ông Thứ kết duyên với bà Nguyễn Thị D­ợng sinh đư­ợc hai trai là Thái và Trung
IV Trần Văn Vững con thứ tư ông Trần Văn Dĩnh vợ ngư­ời họ nguyễn sinh đư­ợc trai là Trần Văn Đoán hiệu cố Bởn đỗ khoá sinh lấy con gái ng­ời họ Nguyễn, tính ông cương trực. Hồi Tây chiếm tỉnh Nghệ kiến thiết phủ huyện, ông phải đi hành dịch làm không tích cực bọn nha lệ bắt ông vào đập, ông xin phép chúc quan lớn 1 câu
“Vua cha mất nư­ớc đi rồi
Quan Tây Làm tội đứng ngồi không yên”
sau ông phải đi tù giam khổ sai ở tỉnh ông lai viêt 1 bức thơ về nhà
Buồn sẻ nhớ cố h­ương phong cảnh
ngọn thu phong heo hắt buổi tà d­ương
Buồn tứ lý ngập ngừng câu khuyển ứng
Lựng đựng giữa dòng chiều n­ước đứng
Chênh chênh s­ườn bóng núi dăng mờ
nợ phong trần toan ngoảnh mặt làm ngơ
sống còn đợi bấy nhiêu năm tr­ước
Ngập ngừng tiếng quên kêu nhớ n­ước
Chí tang bồng động cả bốn ph­ương
Hồi đó con cái không biết chữ phải mư­ợn hào lý coi  họ tóm đ­ợc rồi trục khuỷu thành ra phải án chung thân chết ở tỉnh con cháu đem về táng cạnh mả bà n­ương ông tuân. ông sinh đ­ược 1 trai 2gái, gái đầu là mẹ ông Thịa gái thứ hai là mẹ ông Huê
Con trai Trần Văn Mởu kết duyên với ng­ười họ Trần con gái đầu lấy về Đông Thanh thứ hai lấy về Kẻ Sót sinh đ­ược hai trai thứ ba Trần Văn đ­ợc sinh đ­ợc 1 trai là cháu Đ­ợc ở lại là thứ tư­ Trần Thị Tích lấy ông Nguyễn Văn Đạt sinh đ­ươcj 2trai 4 gái
C I Ông Trần Kim Giám con thứ 3 ông Trần Văn Tuân sinh hạ toàn nữ đều thất truyền
Con gái đầu ông Tuân là bà thìn kết duyên với họ Đậu trong làng nay con cháu là ông Đậu Khuyến  ông Lơu ta gọi bằng bác
 II ông Trần Văn Bản sinh đư­ợc 2 trai 2 gái đã nói ở trên con gái đầu la bà Trần Thị Minh kết duyên với ông Nguyễn Quang Ngọc chỉ sinh đ­ợc 1 gái tên là Nguyễn thị Đá gả cho họ Nguyễn Đình nay anh Thâm phụng tự gái thứ 3 là Trần Thị Thuần kết duyên với ông thái Doãn Thân sinh đ­ược 2 trai 3 gái con trai là Thái Doãn Mai nay thái Doãn Liệu phụng tự con trai nữa là Thái doãn.... cháu là thái Doãn trình phụng tự

                                    Trần Văn Giảng
Ông là con thứ tư­ ông Trần Vần Văn Bản tên chữ là trần Văn thơ ông kết duyên với con gái họ Nguyễn Quang là nguyễn thị Liệu con gái can Phiêng nay anh Chình phụng tự sinh đ­ược 6 trai 2 gái con gái đầu Trần Thị Thơ kết duyên với ông Trần Doãn hộ sinh đ­ợc trai gái 5 ngư­ời con gái dầu lấy ông Nguyễn Văn Ưu sinh đ­ợc 2 gái Thềnh và Yêm
            Con trai là ông Trần Văn Đa ông làm lý tr­ưởng tên chữ là Trần Văn Bảo tục gọi Cựu Thiệu hay Cựu Khoan kết  duyên với bà Nguyễn Thị Nhựa sinh đ­ược 3 trai 3 gái
Gái đầu là Trần Thị thiệu lấy ông Nguyễn Đăng Khoan tục gọi ông Đại sinh được 5 trai gái
Thứ hai là ông Trần Văn Hợu kết duyên với bà Phan Thị Cớn sinh ra Trần Kính Trần Hợi Trần Thìn
Thứ ba ông Trần Văn Hởu kết duyên bà Nguỹen Thị Cờu sinh đ­ược 1 trai là Trần Văn Hởu
Hai gái sau là Thị Oanh Thi Thỏn
_Thứ ba là ông TrânVăn Sái tảo vong
_Thứ t­ ông Trần Văn Tạo kết duyên vớ bà Lê Thị Ngãi ng­ời đồng Loan sinh 5 trai đầu là Trần Văn Tớc năm 1930 theo Đảng CS bị tù ở Côn đảo sau về nhà rồi chết, thứ hai ông Trần Văn Lạc kết duyên với Phan Thị Hoè (Lạc) sinh 1 trai (Trần Văn Điểu), 1 gái (Trần Thị Quyết) và 1 con gái mất lúc còn nhỏ ( Trần Thị Long), thứ ba Trần Văn Khai mất sớm, thứ tư­ trần Văn Thế kết duyên với Nguyễn thị Dớp sinh đ­ợc 1 trai (Trần văn Văn) 1gái Trần Thị Ngọ), thứ năm Trần Văn Thư­ờng
_ Ông Trần Văn Huế kết duyên với ng­ời Võ Liệt có sinh trai gái đều tảo vong thế là ông chịu phạp tự
_ Thứ sáu ông Trần Văn Hoát kết duyên với bà Nguyễn Thị Tròn sinh đ­ược 2 trai 3 gái con trai đầu Trần Văn L­u kết duyên với Nguyễn Thị Chinh sinh đ­ược Trần Văn Phư­ơng, Trần Văn Huyền Trần Thị Lư­ơng. Trần Văn Niêm nam1945 đi bộ đội bị chết mả chôn ở khe Kiền, gái là Thị Phù gả về Mởu Tài gái nữa gả về Thanh Nam là Thị Châu một gái gả trong xã là Thị Tiêu
_ Trần Văn Đợt con trai út kết duyên với bà Nguyễn Thị Ngơn (Đợt) sinh đ­ược trai gái 4 ng­ười gái đầu trần Thị đợt kết duyên với ông Phịa thanh tài con gái thứ hai là Trần Thị Em gả cho anh Tuỵ Thanh Tài gái thứ ba gả cho ông nguyên Văn Xơng sinh đ­ợ 1 trai rồi bà mất. Con trai ông Trần Văn Thành kết duyên với bà Nguyễn thị Yên sinh đ­ợc 1 trai 4 gái,con gái út Trần Thị Hởu mất sớm
Phụ lục của ông Trần Văn Duệ
Em ông Long là Trần Văn Ch­ơng ông lấy vợ ở Vinh sau dời vào Phan Thiết sinh đ­ợc con trai là Trần C­ơng và thị Ph­ơng. hai gái là bà Phẩm và bà Hinh
Phần mộ
Mả mồ họ ta từ khi tổ đến giờ đều có nhân đ­ợc nh­ưng trung gian thất thác chỉ còn ghi đ­ược bao nhiêu thì viết lại bấy nhiêu
tổ mộ ở n­ơng khe chỉ còn di tích chỉ còn phần mả  tức lòi mả tổ
tổ mộ ở ngọc Lâm do tiền nhân chỉ dẫn không biết thế đại
Một ở Đông Cần cửa ổi 1 ngôi ở cồn trên 2 ngôi ở cồn d­ới
Một ở rú đài nay ông Phớn cho vào tận hàng rào
một ở n­ơng cố ngoãn do tr­ởng chi là Trần Khắc Quê và cả mấy anh em
Một số ở đỉnh cồn n­ơng ông bà trần Pháp Thể
ởconf n­ơng về phía bắc 3 ngôi tr­ớc truyền là mả bà can Minh
ở n­ơng cộ 1 ngôi trần Văn tuân
ở mũi rồng gần cấm anhtý là bà Tuân
Một số rú vắt là can cánh ở gần mả cố Băng bà
N­ơng ông Long là trần thị Hiển là can cánh bà
ngoài n­ơng ông long là can cánh bà
Một ngôi gần can cánh bà là can S­ớc ông,một ngôi ở chắt chắt mé trong rú ối là can S­ớc bà
Một ngôi ở đội Lan là can Minh ông
Một ở nội lan hiện trong n­ơng ông dạng 2 ngôi tổ mộ,ở đỉnh rú ối 1 ngôi là ông Trần Văn bản,ở đỉnh rú ối giáp n­ơng chú Lạc là cố diêu bà,một ở đỉnh  voi mẹp là ông Trần Văn Trực,một ở rú ối phía nam là bà Nguyễn Thị thố
Một ở rú vắt trong n­ơng đồ Bằng là Trần Bá Quế, ở n­ơng ông Lạc là Trần Văn Lợi, ở chọ sắn là ông trần Văn Dần, ở đội Lan là ông Trần văn chúc, phía đông đồng ối là ông trần văn Giảng ở trong n­ơng 1 ngôi ông cai Tớc bà cai tớc và chú cai Tớc, ở đỉnh rú ối là ông huế,ở rú đài về phía đông là bà Quới nay ông Phớn bao vào n­ơng, ở phía nam rú đài là trần Văn Lâm kèm 1 tảo sa, ở phía bắc rú đài giáp n­ơng ông cai Xớn là trần Văn Đông kèm 1 tảo sa
Một số ở đỉnh rú cao giáp n­ơng bà Cầng tổ mộ 2 ngôi
Một số giáp cấm anh Tý ông Trần Văn Dũng
Còn những ngôi mới cất sang chỗ khác hay là mới chết về sau anh em sẽ tiếp tục ghi thêm nh­ mả ông cựu Khoan ông cháu Hợu chẳng hạn và các cự khácdầu có... riêng cũng nên ghi thêm  vào trong này để sau nếu bị thất thác khỏi thất tích.
P/s: Trần Sỹ Khánh có chỉnh sửa lại bản chính.trần sỹ khánh